Đôi khi ta hay tưởng tượng ra những thứ thuận theo sự suy diễn và mong mỏi của ta. Rằng người này phải như thế này, còn người kia phải như thế kia. Thường, ta hiếm khi yêu ai như họ vốn là. Ta chỉ xem họ là nơi để gửi gắm những mong muốn, khát khao của chính mình. Vậy mới có những thất vọng, sụp đổ khi đối phương không giống như ta tưởng tượng và trông đợi. Vì ta đâu yêu con người thực sự ấy, ta chỉ yêu chiếc áo lấp lánh mình tự thêu dệt rồi kỳ vọng khoác lên cho họ mà thôi.
Tôi từng làm bài thơ có ý này:
Bởi vì ta kỳ vọng Vào ai đó quá nhiều Nên khi không vừa ý Thấy thất vọng bao nhiêu
Thật ra họ chẳng khác Tại ta cứ tô hồng Nên khi gặp sự thật Ảo mộng hóa phù vân.
Khi xong xuôi mùa vụ, đồi núi thênh thang, người Lô Lô lại nghĩ tới việc tổ chức lễ rửa làng vào một ngày đẹp trời với những ước vọng tốt lành cho cuộc sống ấm no.
Lễ rửa làng của người Lô Lô
Người Lô Lô là một trong những dân tộc thiểu số có dân số ít nhất tại Việt Nam, cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Tuy nhiên, không vì thế mà đồng bào nơi đây thiếu vắng bề dày văn hóa so với những tộc người đông cư dân. Người Lô Lô thường sống tập trung trong các bản làng cố định nên có tính cộng đồng rất rõ nét. Ngoài những lúc làm lụng vất vả, họ lại quây quần bên nhau để cùng thực hiện những nghi thức cổ truyền hướng về nguồn cội và cùng nhau ước vọng đời sống ấm no. Bên cạnh những ngày lễ tiêu biểu như lễ nhảy cây, lễ cầu mưa, lễ thờ thần đá, thì người dân Lô Lô còn có lễ rửa làng rất độc đáo, thú vị.
Dê là loài vật không thể thiếu trong lễ rửa làng của người Lô Lô
Lễ rửa làng còn có tên gọi là lễ mừng ngô mới, bắt nguồn từ nhận thức của người dân rằng không gian sinh sống của họ phải được “làm sạch”, “tẩy rửa” theo định kỳ để không còn những bụi bặm, đen đủi, tà ma quấy phá. Theo thông lệ, cứ ba năm một, vào thời điểm tháng 5 hoặc tháng 6 âm lịch, người Lô Lô ngồi lại cùng nhau chọn ngày tổ chức lễ rửa làng, thống nhất việc mời thầy cúng và phân công mọi người sắm sanh đồ lễ. Một ngày trước khi tổ chức lễ rửa làng, người dân chuẩn bị lễ vật gồm thẻ hương, chén nước, giấy trúc và con gà trống. Vào tối ngày hôm trước, thầy cúng sẽ thắp hương rồi đặt giấy trúc và chén nước xuống góc nhà để khấn xin tổ tiên đồng ý cho tổ chức lễ rửa làng. Khi thầy cúng bọc tờ giấy trúc lên chén nước mà nước trong chén không bị thấm hoặc đổ ra ngoài thì lễ xin rửa làng đã linh nghiệm, báo hiệu việc cúng lễ sẽ thành công. Kết thúc lễ xin, ông thầy đốt tờ giấy trúc để hoàn tất thủ tục cúng.
Lễ rửa làng được người Lô Lô chuẩn bị kỹ càng
Đoàn người thực hiện lễ cúng vào ngày hôm sau gồm có một thầy cúng chính, một thầy cúng phụ và một số nam giới trong làng đi theo hỗ trợ. Đoàn người sẽ cùng nhau đi khắp các nhà, suốt các hang cùng ngõ hẻm trong làng bản, vừa đi vừa gõ chiêng trống rộn ràng nhằm đánh thức những điều đẹp đẽ ngủ quên và xua đi những rủi ro ám ảnh. Theo tiếng chiêng trống vang động, tà khí sẽ sợ hãi mà bay xa. Đồ lễ mang theo đoàn người còn có hai con dê (được cho là có mùi đặc trưng để xua đuổi tà ma), một con gà trống trắng, rượu ngô, hạt ngô, cỏ, kiếm gỗ, kiếm sắt, ba cành lau, ba cành đào, ba cành mận, miếng vải đỏ, đôi sừng trâu và cây tre to. Cây tre dài trước đó đã được đục miệng ở đoạn giữa và đổ đầy đất vào sau đó cắm hình nhân bằng giấy màu (được cắt theo kiểu đang giơ tay lên van xin, thể hiện cho sự sợ hãi của các hồn ma với người dân) rồi cắm hương theo từng hàng dọc ở giữa cây tre giả làm con ngựa.
Hình nhân thế mạng bằng giấy màu được cho là có khả năng xua đuổi tà ma
Trên hành trình đi quanh làng bản, sẽ có hai người dắt hai con dê. Những người còn lại, người thì vác cây tre giả hình ngựa; người quấy hạt ngô; người xách gà trống trắng cùng các cành đào, mận, lau, vải đỏ… theo sau thầy cúng đi vào từng nhà dân. Thầy cúng sẽ cất lời xua đuổi tà ma, dậm chân và rắc ngô khắp các góc nhà. Tới nhà nào, gia chủ nơi đó phải chuẩn bị sẵn hình nhân cùng hai bó củi và hai bó cỏ để ngầm bồi dưỡng công xua đuổi tà ma cho thầy cúng với thái độ cung kính, thành khẩn.
Thầy cúng hành lễ
Xong phần lễ, mọi người thấy nhẹ nhõm hơn và tin tưởng vào một tương lai tươi sáng phía trước, làng bản từ nay sẽ phong quang, sạch sẽ và mọi việc sẽ thuận lợi, may mắn. Các cô gái trong bản nhân dịp này được diện những bộ váy áo đẹp được thêu thùa cầu kỳ, trên đầu đội những chiếc khăn điệu đà làm dáng, túm tụm bên nhau vui vẻ nói cười. Các chàng trai hào sảng phấn khởi lớn giọng chúc tụng nhau chén rượu nồng thơm. Các cụ ông, cụ bà anh ánh nét cười nhìn con cháu vui vầy xum họp. Mọi người hoan hỉ ăn tiệc, uống rượu mừng rồi mới ai về nhà nấy, bắt đầu ba năm yên ổn sinh sống và làm ăn. Sau lễ cúng, phải 9 ngày sau người lạ mới được bước vào làng vì người Lô Lô cho rằng nếu để người lạ đến, tà ma lại sẽ theo vào và như vậy là lễ không thiêng nữa. Nếu chẳng may có người lạ vào làng, người đó phải sửa soạn lễ vật để cúng lại, bù vào lễ cúng đã bị họ làm mất thiêng.
Nghi lễ rửa làng của người Lô Lô là một trong những tín ngưỡng dân gian độc đáo
Với những nghi thức độc đáo như trên, lễ rửa làng của đồng bào Lô Lô được coi là tín ngưỡng dân gian và nét đẹp truyền thống góp phần làm giàu có thêm cho bản sắc của cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam.
Người ta thường nói, điều giản dị và thuần khiết nhất chính là điều đẹp đẽ và bền bỉ nhất. Ý nghĩ ấy đã khởi lên trong tôi khi tôi được đặt chân tới làng Thổ Hà vào một ngày nắng trong và gió nhẹ. Thổ Hà thuộc địa phận xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, là một ngôi làng cổ thuần Việt mang nhiều nét đặc trưng truyền thống của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Vẻ rêu phong, cổ kính của cảnh sắc và quần thể kiến trúc cũng như sự thuần hậu, mộc mạc của người dân Thổ Hà đã để lại trong lòng tôi ấn tượng khó phai.
Bến đò làng Thổ Hà
Với địa thế ba mặt được bao bọc bởi dòng sông Cầu và một mặt tựa mình vào đồi núi thấp, Thổ Hà được hưởng trọn sự nuôi dưỡng hiền hòa của thiên nhiên. Phương tiện đi lại chính của người dân nơi đây là thuyền đò (tập trung ở ba bến đò là bến Chùa, bến Dưới và bến Trên) khiến Thổ Hà như một ốc đảo tách biệt với những xô bồ bên ngoài. Hình ảnh dòng sông Cầu thơ mộng với hàng tóc si ngả mình soi bóng nước hay những dáng đa cổ thụ nằm trầm lặng bên ngôi đền cổ được xem là biểu tượng cho sự bình yên mà người Thổ Hà đã gìn giữ suốt bao năm. Và họ cứ thế, giản dị vui buồn sống một đời thanh đạm, chuyên tâm làm nghề truyền thống bên con sông hiền hòa.
Biểu diễn Quan họ trong ngày hội làng
Bước quanh co theo lối đi đỏ nâu màu gạch xưa, ta có thể thư thả ngắm nhìn nắng chiếu trên những mái ngói rêu phong hay lá hoa la đà ngoài sân, trước ngõ. Lòng chợt lắng lại khi bước vào một gian chùa cổ, thấy như được gột rửa khỏi bụi bặm cuộc đời. Ngước nhìn những mái đình cong cong đượm màu mưa nắng, tâm trí trở nên nhẹ nhõm hơn. Ta được ngắm từng mảng gạch nung, tiểu sành, mảnh gốm trát trên cổng làng, miếu làng, giếng cổ hoặc những bức tường nhà gợi nhắc một thời vang bóng của làng gốm Thổ Hà xưa. Dừng chân tại đình Thổ Hà, chùa Đoan Minh và từ chỉ Thổ Hà (đã được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia), ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nơi đây lưu giữ nhiều bia đá, đồ thờ, hoành phi, câu đối rất cổ và quý hiếm, xứng đáng là một trong những nơi tiêu biểu cho không gian văn hóa, tâm linh truyền thống của người Việt vùng châu thổ sông Hồng.
Diễn viên trong màn diễn Tuồng tại Hội làng Thổ Hà
Bước quanh co theo lối đi đỏ nâu màu gạch xưa, ta có thể thư thả ngắm nhìn nắng chiếu trên những mái ngói rêu phong hay lá hoa la đà ngoài sân, trước ngõ. Lòng chợt lắng lại khi bước vào một gian chùa cổ, thấy như được gột rửa khỏi bụi bặm cuộc đời. Ngước nhìn những mái đình cong cong đượm màu mưa nắng, tâm trí trở nên nhẹ nhõm hơn. Ta được ngắm từng mảng gạch nung, tiểu sành, mảnh gốm trát trên cổng làng, miếu làng, giếng cổ hoặc những bức tường nhà gợi nhắc một thời vang bóng của làng gốm Thổ Hà xưa. Dừng chân tại đình Thổ Hà, chùa Đoan Minh và từ chỉ Thổ Hà (đã được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia), ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nơi đây lưu giữ nhiều bia đá, đồ thờ, hoành phi, câu đối rất cổ và quý hiếm, xứng đáng là một trong những nơi tiêu biểu cho không gian văn hóa, tâm linh truyền thống của người Việt vùng châu thổ sông Hồng.
Trẻ em Thổ Hà làm nghề truyền thống sản xuất bánh đa nem
Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc, Thổ Hà còn nổi tiếng với nghề làm bánh đa và mì gạo. Bánh đa nem Thổ Hà có màu trắng, mềm dẻo và khi đem cuộn rồi rán lên sẽ ra thứ nem giòn mà không vỡ. Mì gạo Thổ Hà cũng nổi tiếng khắp xa gần bởi độ dẻo dai, thơm ngon. Chưa kể đến món bánh đa vừng, bánh đa dừa nức tiếng xa gần bởi vị bùi, ngọt và ngậy. Điểm đặc biệt trong cách phơi bánh của người Thổ Hà là phơi gió chứ không phải phơi nắng nên vỏ dai và dễ cuốn. Bột gạo làm bánh là loại gạo tẻ nguyên chất, được người dân xay thủ công bằng cối đá để tạo độ kết dính chuẩn mực. Du khách khi rời Thổ Hà thường mua những tấm bánh đa, những xách mì gạo đơn sơ về làm quà, và không quên mang theo vài cút rượu làng Vân nồng ấm khi xuôi dòng sông Cầu tạm biệt. Chợt nghe ai đó đọc đôi câu của nhà thơ Phan Vũ: “Rượu làng Vân lung linh men ngọt/ Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa/ Những chàng trai say suốt cả mùa”…
Thổ Hà cũng là vùng đất tươi đẹp và bay bổng với các lễ hội truyền thống đa dạng sắc màu. Khi con chim én gọi xuân về, nơi đây sẽ náo nức tổ chức các lễ hội du xuân, trong đó có lễ hội Thổ Hà – Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Du khách sẽ được đắm mình trong những làn điệu quan họ liền anh, liền chị quyến luyến lòng người; được hát đối quan họ trên con thuyền trôi lững thững giữa dòng sông Cầu; được hòa mình tươi trẻ vào các trò chơi dân gian chơi đu, chọi gà, vật, đánh cờ bỏi, thi bơi bắt vịt… Chẳng thế mà Thổ Hà từng được vua Tự Đức ban tặng cho bốn chữ: “Mỹ tục khả phong”, ghi nhận đây là nơi có nhiều phong tục tập quán đẹp, đáng để các nơi hướng về, học hỏi.
Hát đối Quan họ trên sông Cầu
Với những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của một vùng quê đậm đà bản sắc, làng cổ Thổ Hà là điểm đến ý nghĩa với những ai muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về nét đẹp trong đời sống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Đến và cảm nhận, để thấy hồn Việt lẩn khuất trong từng thớ đất xưa cũ, trong từng mái ngói rêu phong nhuốm đầy ký ức tháng năm, trong từng nhịp khua chèo thong thả trên sông Cầu thơ mộng.
Người đi xa vương vấn chốn bình yên, không khỏi chạnh lòng nhớ tới câu thơ của Đồng Đức Bốn dành tặng sông Cầu: “Anh xa để lạnh đôi bờ/Đò em cứ chảy lơ thơ giữa dòng/Đừng buông giọt mắt xuống sông/Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”.
Ở tỉnh Cao Bằng, có nhiều ngọn núi Thủng độc đáo nằm ẩn mình trong những thung lũng xanh. Núi Thủng còn có tên là núi Mắt Thần, tiếng Tày là “Phja Piót”, nghĩa là núi bị thủng một lỗ xuyên từ bên này sang bên kia.
Núi thủng ở xã Ngũ Lão huyện Hòa An nằm ẩn mình trong thung lũng xanh
Các ngọn núi Thủng ở của huyện Hòa An, Quảng Hòa, Trùng Khánh… đều nằm trong công viên địa chất Cao Bằng, hình thành và phát triển trong quá trình kiến tạo địa chất hàng trăm triệu năm với địa hình đá vôi dạng tháp, dạng nón.
Các nhà địa chất đã tìm thấy những hóa thạch cổ sinh như Huệ biển, Trùng thoi… trong đá vôi và các mặt cắt thể hiện dấu ấn trong quá trình đứt gãy của đá vôi hệ tầng Bắc Sơn. Người ta gọi là núi Thủng hay núi Mắt Thần là bởi trên đỉnh núi có một khoang rỗng rất lớn, như bị ai đó khoan thủng và cũng giống một con mắt núi ẩn chứa trong đó những câu chuyện thần bí. Nơi khoang núi ấy, quanh năm cỏ cây tươi tốt, từng vệt nắng xuyên qua thẳng tắp sáng lấp lánh và mây bay quẩn quanh khiến đất và trời như nhòa lẫn, không còn ranh giới.
Người dân bản địa với nghề nông truyền thống
Có những ngọn núi thủng nằm cách không xa quần thể hồ Thang Hen với 36 hồ nước ngọt tự nhiên, thông nhau bởi các hang động ngầm dưới lòng đất. Chính điều này đã khiến hồ Thang Hen có hiện tượng mực nước thay đổi theo mùa, thậm chí theo ngày khi có lúc nước rút rất đột ngột chỉ trong vài tiếng. Ghé thăm Thang Hen vào mùa xuân bạn sẽ được ngắm cây cối, cảnh vật rạng rỡ với trăm hoa rực rỡ, rất thích hợp để ngồi thuyền du ngoạn, ngắm cảnh. Nếu đến nơi đây vào mùa hè, bạn sẽ được hưởng bầu không khí trong lành với cây cối hai bên hồ trổ lá xanh tươi. Vào mùa mưa, nước hồ dâng cao do mưa nhiều tạo thành chuỗi 36 hồ nước mênh mông trải dài. Mặt hồ như tấm gương trong cho những ngọn núi xám cúi mình soi bóng. Vịt bơi thảnh thơi giữa dòng nước lặng và trên bờ trâu bò thong dong gặm cỏ. Vào mùa khô, hai bên hồ vàng ươm sắc lá và càng nên thơ hơn khi hoa dã quỳ đã bung mình nở rộ. Lúc này, nước hồ cạn đi để lại lớp bùn non làm nền cho cỏ mọc lún phún xanh biếc trên mặt hồ. Nước rút đến mức người dân nơi đây còn lội xuống lòng hồ bắt được rất nhiều cá. Trong quần thể hồ Thang Hen còn có thác Năm Trá rộng 15ha. Thác không cao nhưng có rất nhiều dòng chảy uốn lượn xen giữa những mỏm đá cao thấp lô nhô, dào dạt tuôn về mặt hồ Nặm Trá như những dải lụa mềm dài vô tận.
Du khách cắm trại ngắm cảnh non nước hữu tình ở xã Quốc Toản huyện Quảng Hòa
Du khách đến các núi Thủng có thể chọn nghỉ dưỡng ở khu du lịch sinh thái hồ Thang Hen trong những nếp nhà sàn truyền thống. Hoặc thú vị và trải nghiệm hơn nữa, bạn hãy đem theo lều bạt để cắm trại trong thung lũng bình yên này. Chỉ cần một chiếc trại gọn nhẹ với đôi ba vật dụng cần thiết là bạn đã có một ngày vui đáng nhớ ở đây rồi. Nếu muốn ngủ lại, bạn cần chuẩn bị thêm chăn mỏng và gối cùng đồ ăn nhanh hoặc bếp nướng. Ban ngày, bạn đi thăm thú cảnh sắc núi non sông hồ và chụp những bức ảnh lưu niệm tuyệt đẹp. Thú vị hơn, bạn có thể thả mình trên chiếc thuyền độc mộc xuôi dòng nước lặng ở hồ lớn Thang Hen, Nặm Trá hay các hồ nhỏ trong quần thể hồ nơi đây như Thang Vạt, Thang Loỏng, Nà Ma… để khám phá sâu hơn hệ thống sông hồ đa dạng. Khi màn đêm buông xuống, bạn sẽ được ngắm trăng sao lấp lánh trên bầu trời huyền bí, quây quần kể nhau nghe những câu chuyện truyền thuyết về vùng đất này, rồi dần chìm vào giấc ngủ cùng núi rừng yên ả. Khi được hoàn toàn thả lỏng giữa không gian yên tĩnh hoang sơ, trong bạn sẽ tràn ngập cảm giác an yên tự tại bởi con người như được tan lẫn cùng thiên nhiên.
Khung cảnh thanh bình dưới chân núi Thủng Nặm Trá ở huyện Quảng Hòa
Ngọn núi Thủng được nhiều du khách biết đến nhất nằm ở xã Quốc Toản huyện Quảng Hòa. Muốn khám phá đời sống của người dân bản địa, từ núi Thủng bạn đi bộ khoảng 15 phút sẽ đến xóm Bản Danh nơi có người Tày đang sinh sống. Đi qua những hàng rào đá đặc trưng, bạn sẽ lạc vào một xóm bản mộc mạc với những nếp nhà sàn đơn sơ gần gũi. Người dân nơi đây quanh năm sống đời bình dị, chăm chỉ trồng lúa, trồng ngô và chăn nuôi gia súc. Đi sâu xuống phía dưới thung lũng, sẽ thấy những ngôi nhà cổ với kiến trúc bằng đá lẩn khuất dưới những tán cây rừng đã vương bụi thời gian. Thấp thoáng phía xa là các loài cây báng, nghiến hay trám lúc lỉu quả trắng, quả đen vị bùi thơm ngậy. Khi bụng đã đói, bạn hãy tìm ăn những món đặc sản như cá chiên sông Gâm, cá tôm hồ Thang Hen, nhộng ong xào măng chua, rau dạ hiến, xôi trám, miến dong đen, lạp xưởng hun khói, rượu ngô men, mèn mén, ngô nếp… để tận hưởng trọn vẹn cả thiên nhiên lẫn ẩm thực nơi này.
Giữa đất trời bao la, đứng trên đỉnh Mắt thần lộng gió, nơi chiếc cổng vòm rêu cỏ xanh um với mây trôi bảng lảng trên đầu, ta có thể ngắm cả một khoảng trời xanh nhấp nhô bóng núi và thảm cỏ xanh, mặt nước trôi êm phía dưới. Thấp thoáng từng cánh chim chấp chới bay về tổ bên những lũy tre tươi tốt tỏa vồng. Bãi ngô rợp lá xào xạc. Đồng lúa chín đang vào mùa. Hoàng hôn buông xuống, những bóng người gánh lúa, gánh rơm về bản, trong mắt họ ánh lên nụ cười dung dị bình yên.
Trời thoắt mưa thoắt nắng Ngày lúc tạnh lúc giông Đường khi là dòng sông Vỉa hè khi ngợp lá
Có trưa nồng hối hả Có sương sớm hiền hòa Gió xôn xao hương lạ Bay trên phố tình ca
Mùa tháng Tám vàng thu Radio ngân khẽ Buồn vui câu chuyện kể Lời thì thầm bạn tôi
Có nhè nhẹ xa xôi Trong tình cờ gặp gỡ Chiều nay về qua ngõ Còn thấy nụ cười xưa?
—
Tháng Tám thu sang lá chuyển màu Nắng non vừa hé thoắt mưa mau Xao xác gió lùa trên mái phố Vừa tiễn người về đã nhớ nhau.
—
Tháng Tám có một ngày thật lạ Gió hiền, nắng thơm, mây lãng đãng Dương xỉ gầy, nhành ngọc lan mướt mát Trở mùa về dưới làn bụi sớm nay Bỗng được chạm vào vụng dại thơ ngây Được em yêu và yêu em cuồng nhiệt Được trẻ trung và nhớ nhung tha thiết Thấy tim mình hối hả những nhịp nhanh Tháng Tám, một ngày thu rất xanh Bài nhạc cũ cồn cào lên nhung nhớ Phố có em ngọt lành từng hơi thở Tôi trôi vào miền yêu dấu xôn xao Những nụ hôn mềm ấm cháy nôn nao Ngày tháng Tám lịm tan trong hạnh phúc.
—
Tôi thương tháng Tám nắng vàng Và thương mấy tán lá bàng mộng mơ Tôi thương góc phố nên thơ Và thương thêm nỗi đợi chờ dịu êm Tôi thương hoa nở bên thềm Và thương gió nhẹ thổi mềm bờ vai Tôi thương những nỗi buồn dài Và thương cả chút tàn phai cuối mùa.
—
Tháng Tám bưởi tròn rám vỏ Mưa rào đôi lúc vu vơ Má hồng em đi qua ngõ Cho tôi trông ngóng thẫn thờ
Ngoài vườn quả rơi kín gốc Cỏ lên lún phún sau mưa Gió luồn qua ô cửa nhỏ Nhện vàng yên ả giăng tơ
Em vui tươi lên phố rộng Tôi thu xếp nỗi nhớ mình Má hồng cứ hồn nhiên nhé Mặc tôi với nắng buồn tênh.
Ngày chưa biết Buôn Đôn, tôi từng nghe đôi ba người than vãn: “Buôn Đôn chả có gì đâu, đi loanh quanh chỉ thấy mỗi núi rừng sông suối” hoặc “Giờ Buôn Đôn đô thị hóa mất rồi, không còn người dân tộc mấy đâu”. Nhưng với riêng tôi, chuyến dừng chân tại Buôn Đôn lại là dấu ấn đáng nhớ nhất trong chuỗi hành trình khám phá vùng đất đỏ Bazan đại ngàn khoáng đạt.
Kiểu nhà dài của dân tộc Ê Đê
Với những ai thích đi theo lộ trình với sự hướng dẫn của hướng dẫn viên du lịch thì có thể tìm đến những địa điểm nổi bật của Buôn Đôn như Khu du lịch quần thể cầu treo, Khu du lịch sinh thái Bản Đôn – Ánh Dương, Vườn Quốc gia Yok Đôn, Thác Bảy Nhánh – Thanh Hà hay Trang trại du lịch Vườn Troh Bư để được thăm quan tổng thể. Còn với tôi, tôi thích tự mình khám phá vẻ hoang dã nguyên sơ và yên bình của Buôn Đôn theo góc nhìn riêng. Vẻ đẹp Buôn Đôn sẽ chỉ hiển hiện khi bạn bước chậm lại, thả lỏng tâm trí, ngắm nhìn và lắng nghe để cảm nhận thật sâu vẻ đẹp thiên nhiên và bản sắc văn hóa Tây Nguyên lẩn khuất trong từng sinh hoạt đời thường dung dị.
Rừng Khộp – Vườn Quốc gia Buôn Đôn
Tháng 11, trời miền Trung Tây Nguyên lãng đãng, dìu dịu, rất phù hợp để vào rừng. Mùa này mưa đã ngớt, nắng không quá gắt, bạn sẽ cảm thấy dễ chịu khi thăm Buôn Đôn trong cả một ngày dài mà không mỏi mệt. Hãy bắt đầu chuyến đi lý thú bằng việc khám phá vườn quốc gia Yok Đôn với cảnh quan đa dạng và phong phú. Buôn Đôn và Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk (cùng với Cư Jút của tỉnh Đắk Nông) là ba huyện được hưởng trọn không gian của khu rừng đặc dụng mang tên “rừng khộp”. Rừng khộp là loại rừng thưa cây, rụng lá vào mùa khô, có cấu trúc tán đơn giản, chủ yếu chứa các loại cây thuộc họ Dầu. Bạn có thể thảnh thơi đi bộ, đạp xe trong rừng sâu dưới bóng những tán lá mát rợp hoặc chinh phục đỉnh Yok Đôn nếu hứng thú leo núi, hoặc thử làm kiểm lâm để thực tế công việc gác rừng nhiều thú vị. Người yêu vẻ đẹp tự nhiên sẽ thích thú khi được khám phá nơi này trong khi người ưa vẻ nhân tạo sẽ ít nhiều thất vọng bởi Buôn Đôn còn đơn sơ quá. Với tôi, đơn sơ là một vẻ đẹp, hoang dã là một giá trị. Sau lớp mưa phùn sáng sớm, nắng bắt đầu hé, sưởi nhẹ cho những loài hoa dại vô tư khoe sắc. Mùa khô, mùa lá rụng, vườn quốc gia Yok Đôn như được nhuộm muôn ngàn sắc đỏ vàng nên thơ. Ai bảo Tây Nguyên không có mùa thu?
Buôn Đôn cuối mùa mưa
Nhắc đến Buôn Đôn thì không thể không nhắc tới dòng Sêrêpôk. Sông Sêrêpôk là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Tại Đắk Lắk, sông có đoạn mang tên là Đăk Krông và chảy qua các huyện Krông Ana, Buôn Đôn và Ea Súp của tỉnh này. Sông Sêrêpôk là linh hồn và biểu tượng của vẻ đẹp Buôn Đôn, là con sông duy nhất của Việt Nam có dòng chảy ngược về phía Tây. Sông Sêrêpôk là nơi hội tụ của nhiều nhánh sông, suối nhỏ, chất chứa bao tinh hoa và câu chuyện đời người. Lưu lượng dòng chảy lớn không chỉ tạo ra các giá trị về thủy điện mà còn khiến hệ sinh thái nơi đây trở nên đa dạng, phong phú… Dòng Sêrêpôk đẹp bởi có nhiều ghềnh thác như thác Đray Sáp, Trinh Nữ, Đray H’linh, Đray Nu, Gia Long và Bảy Nhánh. Thác Bảy Nhánh được nhiều người tìm đến bởi sự đặc biệt khi dòng chảy về qua đây gặp ghềnh đá lớn thì chia làm ra 7 nhánh nhỏ chảy qua các tảng đá. Ai đó theo thuyền độc mộc xuôi dòng Sêrêpôk sẽ khám phá ra ốc đảo Ea Nô và lắng nghe câu chuyện tình của chàng trai M’Nông cùng nữ tù trưởng Ê Đê. Trên chặng hành trình của sông Sêrêpôk, du khách hãy thử cảm giác rung rinh, chơi với trên cầu treo bắc qua sông hay tới hồ Lăk,Thác Phật, suối Đắk Lau, Đắk Te, Đăk Ken để thư giãn, câu cá và bơi lội.
Biểu tượng của Buôn Đôn chính là voi và nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng. Đến Buôn Đôn, bạn sẽ có cơ hội ngắm bầy voi đủng đỉnh đi theo đoàn vào rừng hay lội sông. Mỗi con voi sẽ chở được 4 người, gồm cả người quản voi, đi lững thững trên con đường rừng bằng phẳng hay lội qua dòng nước trong vắt soi bóng mây trời. Bạn cũng có thể thực tế nghề quản voi khitham gia các hoạt động tìm voi trong rừng, điều khiển voi, cho voi tắm, chăm voi ăn… Du khách sẽ được nghe bà con kể câu chuyện về tù trưởng N’Thu K’Nul, người đã có công trong việc lập ra Buôn Đôn và hình thành nghề săn bắt, thuần dưỡng voi. Ông được VuaThái Lan phong tặng danh hiệu Khunjunop (Vua săn voi) và khi qua đời đã được người dân xây mộ để tưởng nhớ. Du khách đến Buôn Đôn sẽ không thể bỏ qua mộ Vua Voi với lối kiến trúc độc đáo, chất chứa câu chuyện về quá trình hình thành, phát triển của Buôn Đôn với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nổi tiếng bao đời.
Ché rượu bên trong nhà dài Ê Đê
Huyện Buôn Đôn có sự sinh sống của đồng bào các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, M’Nông… tạo nên một quần thể văn hóa đặc sắc, đa dạng. Người ưa khám phá bản địa sẽ chọn cách cùng ăn, cùng ở với bà con để cảm nhận chân thực phong tục tập quán đồng bào. Đi lững thững trên triền đất rộng, bạn sẽ được ngắm hoa cà phê nở trắng hay bị hút theo những dáng thổ cẩm đang gùi măng thấp thoáng rẻo cao. Bước vào những ngôi nhà sàn, nhà dài Ê Đê có tuổi đời trăm năm, bạn sẽ được sống trong không gian đồng bào với những nếp văn hóa khác biệt với lối sống của người Kinh. Những ngôi nhà nằm bình yên, luôn rộng mở đón bạn vào và hình ảnh quen thuộc là bên bậc cửa, một cô gái đang thêu thùa đan lát hay một cụ già ngồi tựa cửa thảnh thơi sẽ cười rổn rảng khi gặp người quen và cười rất hiền khi gặp người lạ. Khi đã kiếm được cho mình một nơi để ở giữa lòng dân bản, bạn sẽ được hòa nhập vào đời sống một cách thực sự như được thưởng thức rượu cần nồng đượm; say sưa trong vũ điệu cồng chiêng với điệu dân ca Eacray, Gứt và chìm đắm trong tiếng kể Khan (sử thi) của già làng tóc bạc. Bạn sẽ được tham gia các trò chơi cà kheo, bịt mắt đập niêu đất, lăng mình trên xích đu hay bập bênh bằng gỗ để nghe tiếng cười trong vắt của mình dội lại từ rừng xa. Bạn cũng sẽ muốn mang về chút lưu niệm như thuốc và rượu Amakong hay những miếng thổ cẩm rực rỡ… Và hẳn sẽ nhớ rất lâu ẩm thực núi rừng bởi cơm lam dẻo nướng trong ống nứa, thịt heo giòn sật, thịt nai bùi thơm, nhộng sâu muồng, gà nướng Bản Đôn, măng khô đượm nắng, lẩu rau rừng thanh mát nấu cùng thịt và tôm khô, những miếng cá ngọt vị sông Sêrêpôk…
Dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống của người Ê Đê
Huyện Buôn Đôn có sự sinh sống của đồng bào các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, M’Nông… tạo nên một quần thể văn hóa đặc sắc, đa dạng. Người ưa khám phá bản địa sẽ chọn cách cùng ăn, cùng ở với bà con để cảm nhận chân thực phong tục tập quán đồng bào. Đi lững thững trên triền đất rộng, bạn sẽ được ngắm hoa cà phê nở trắng hay bị hút theo những dáng thổ cẩm đang gùi măng thấp thoáng rẻo cao. Bước vào những ngôi nhà sàn, nhà dài Ê Đê có tuổi đời trăm năm, bạn sẽ được sống trong không gian đồng bào với những nếp văn hóa khác biệt với lối sống của người Kinh. Những ngôi nhà nằm bình yên, luôn rộng mở đón bạn vào và hình ảnh quen thuộc là bên bậc cửa, một cô gái đang thêu thùa đan lát hay một cụ già ngồi tựa cửa thảnh thơi sẽ cười rổn rảng khi gặp người quen và cười rất hiền khi gặp người lạ. Khi đã kiếm được cho mình một nơi để ở giữa lòng dân bản, bạn sẽ được hòa nhập vào đời sống một cách thực sự như được thưởng thức rượu cần nồng đượm; say sưa trong vũ điệu cồng chiêng với điệu dân ca Eacray, Gứt và chìm đắm trong tiếng kể Khan (sử thi) của già làng tóc bạc. Bạn sẽ được tham gia các trò chơi cà kheo, bịt mắt đập niêu đất, lăng mình trên xích đu hay bập bênh bằng gỗ để nghe tiếng cười trong vắt của mình dội lại từ rừng xa. Bạn cũng sẽ muốn mang về chút lưu niệm như thuốc và rượu Amakong hay những miếng thổ cẩm rực rỡ… Và hẳn sẽ nhớ rất lâu ẩm thực núi rừng bởi cơm lam dẻo nướng trong ống nứa, thịt heo giòn sật, thịt nai bùi thơm, nhộng sâu muồng, gà nướng Bản Đôn, măng khô đượm nắng, lẩu rau rừng thanh mát nấu cùng thịt và tôm khô, những miếng cá ngọt vị sông Sêrêpôk…
Vùng trồng điều ở Buôn Đôn
Rời Buôn Đôn, vùng đất đỏ Bazan huyền thoại với vị thiên nhiên đượm mùi nắng gió đại ngàn, người biết thưởng thức vẻ đẹp hoang dã thực sự của Tây Nguyên chắc chắn sẽ muốn quay trở lại, không chỉ một lần.
Mặt trời đã lên cao, biển Phú Yên sáng đầu hè bình yên dưới màu nắng mật ong khỏe khoắn của miền Trung gió lộng. Phú Yên đâu chỉ nổi tiếng với hoa vàng trên cỏ xanh mà còn là quê hương của nắng vàng biển bạc. Nơi đây có thế mạnh về khai thác hải sản với số lượng tàu thuyền lớn ở khu vực miền Trung nên có nhiều cảng cá ngay trong thành phố Tuy Hòa. Các cảng cá Đông Tác, Dân Phước, Phú Lạc, Tiên Châu (trước còn có cảng cá Phường 6 nay đã đóng bến)… đều là điểm ghé quen chân của anh em thuyền chài.
Cá ngừ được vận chuyển từ tàu lên bờ
Những năm gần đây, nghề câu cá ngừ đại dương phát triển mạnh ở Phú Yên khi nhu cầu tiêu thụ cá ngừ ngày càng tăng cao. Đặc biệt là xuất khẩu cá ngừ sang các nước, nhất là Nhật Bản, có rất nhiều cơ hội phát triển. Nhiều ngư dân Tuy Hòa đã mạnh dạn đầu tư tàu lớn ra khơi đánh bắt hải sản. Mọi người hay nói Phú Yên chính là thủ phủ của cá ngừ đại dương quả không sai. Muốn bắt được cá ngừ đại dương, ngư dân phải dùng mực xà tươi để làm mồi nhử. Họ thả sợi cước gắn lưỡi câu móc mực xà tươi xuống biển sâu 60m đến 100m và từ lúc cá cắn câu đến khi đưa được lên khoang tàu phải mất chừng 30 phút. Vui hơn nữa khi thuyền nào bắt được cá ngừ vây vàng hoặc vây xanh. Một chuyến ra khơi thu được 2-3 tấn cá coi như thắng lợi. Những con cá ngừ to dài, tròn quay chắc nịch, da đen bóng được ngư dân vác như bay trên sàn tàu rồi quăng rất ngọt xuống chiếc càng đợi sẵn trên sàn bến. Từ biển, cá sẽ theo những chuyến xe tải lạnh đến các nhà máy chế biến. Nếu cá ngừ qua được vòng kiểm định của chuyên gia Nhật Bản để có thể làm sashimi thì giá bán sẽ cao gấp nhiều lần so với thương lái thu mua thông thường. Nhiều người dân phất lên nhờ đánh bắt cá ngừ, nhiều thuyền thắng lớn khi ra khơi thu được những con cá ngừ nặng hàng trăm kilogam. Ngư dân Phú Yên luôn trông chờ đổi đời nhờ đánh bắt và xuất khẩu cá ngừ nên cũng luôn tìm hiểu, học hỏi để cải tiến, hoàn thiện quy trình bảo quản đáp ứng quy định khắt khe của đối tác quốc tế.
Đánh bắt cá ngừ đại dương đã đem lại nguồn lợi kinh tế cho ngư dân Phú Yên
Những người đàn ông ra khơi, giữa sóng gió không nao núng, khi về đất liền lại trở nên điềm đạm hiền lành. Họ vui vẻ vừa nói cười, vừa hò nhau ròng cá lớn từ khoang thuyền lên để chuyển đi cân và phân loại. Mỗi chuyến đánh bắt thường kéo dài cả một đến hai con trăng, tức là một tới hai tháng. Xa nhà, xa đất liền, sau khi bàn giao mẻ cá tươi, họ sẽ được về nhà ăn bữa cơm gia đình đầm ấm. Nhưng ở nhà vài ngày, ngư dân lại nóng lòng muốn ra khơi bởi tàu thuyền chính là ngôi nhà thứ hai của họ, và hy vọng làm giàu nhờ biển chưa bao giờ ngưng lại.
Theo phong tục, phụ nữ không được bước chân lên thuyền nên họ mưu sinh bằng đủ thứ việc trên bờ
Theo phong tục miền biển, những người phụ nữ không bao giờ được bước chân lên thuyền. Vì vậy đàn ông ra khơi và nhường phụ nữ làm những việc trên bờ, phổ biến nhất là nghề rảo cá. Đàn bà ra bến rất đông, họ quây kín mặt mũi đầu tóc để tránh nắng, đón con tàu lớn đang dần tiến vào cảng với háo hức đợi chờ. Phụ nữ Phú Yên có khí chất mạnh mẽ, nhanh nhẹn, dẻo dai và linh hoạt. Khi cánh đàn ông chuyển cá từ khoang tàu lên, các bà chia tốp hai hoặc bốn người (tùy cân nặng của cá) đặt cáng trên vai để di chuyển cá về nơi cân và phân loại. Cũng có nhiều chị đã đứng đợi sẵn bên chiếc xe đẩy nhỏ gọn để tự mình đẩy bon bon chú cá cồng kềnh. Từng giọt mồ hôi rớt rơi dưới nắng to, mũ nón, khẩu trang hai ba lớp cũng chẳng đủ bảo vệ cho làn da phụ nữ bớt đen xạm. Nhưng trong giọng nói tiếng cười của họ luôn chứa đựng niềm lạc quan của những phụ nữ chẳng thể liễu yếu đào tơ bởi họ vốn sinh và ra lớn lên ở miền biển cả.
Món sashimi được chế biến từ cá ngừ tươi
Vui sao, trên mỗi con thuyền thường có một lá cờ tổ quốc, để các thuyền nhận ra đồng hương và để chúng ta khẳng định rõ chủ quyền biển của Việt Nam khi đánh cá ở ngư trường lớn. Mỗi lần cá về là cả khu cảng nhộn nhịp, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Đời sống cứ ngày nối ngày trôi trên những cảng cá bình yên và sống động. Có háo hức người đi, có mong ngóng người về. Có vui khi tìm được luồng cá dày, có buồn khi chẳng đánh được cá to. Dù thế nào họ cũng vẫn lạc quan tin vào những chuyến tàu đầy ắp cá.
Có những tuần như tuần vừa qua, mình đã buông hết thảy mọi việc xuống để được thả lỏng, được lười biếng thật sự. Đôi khi phải có những quãng ngưng để bớt làm những điều mòn cũ hay bớt sống hối hả đi. Những mối quan hệ, theo quy luật dường như cũng vậy. Dồn dập quá dễ khiến người ta ứ đầy. Rồi đến một lúc nào đó chúng cũng tự dưng giãn ra, dịu lại, nằm yên lặng. Không hẳn vì điều gì cụ thể, có lẽ chỉ là nó cần được thở, cần được nghỉ ngơi để đủ sức đi tiếp những chặng đường dài kế tiếp. Mình nhớ từng làm một bài thơ kiểu này:
Ta chẳng gom được cơn gió Tặng em những trưa nóng nôi Ta chẳng gom được sợi nắng Tặng em mỗi chiều mưa rơi
Ta chỉ có lời ủi an Khi em rơi vào mỏi mệt Ta chỉ biết trao chân thành Khi niềm tin em cạn kiệt
Ta chẳng có gì để tặng Ngoài một trái tim thật thà Em mà mở lòng đón nhận Thì cười rạng rỡ lên nha!
—- Xin chia sẻ thông tin: Sách Winlinh đã có mặt tại kho tự chọn (tầng 4 nhà D) của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Ai là bạn đọc của Thư viện có thể mượn đọc hoặc xem qua trước khi quyết định sở hữu nha!
Mấy chục năm sống trên đời mới biết “buôn bán” là gì. Dẫu chỉ là bán mấy cuốn sách nhỏ, tiền chẳng có là bao. Nếu nói khoản tiền mình kiếm được đầu tiên từ sức lao động bản thân thì từ hồi 16 tuổi, khi mình có nhuận bút bài báo đầu tiên. Và trong suốt nhiều năm sau đó cho đến nay, bên cạnh công việc chính thì nhuận bút viết báo là khoản thu nhập thứ hai (khá thường xuyên) mà mình có. Ngoài ra, thi thoảng mình cũng nhận một số dự án viết theo đơn đặt hàng hay thiết kế ấn phẩm, coi như khoản thu nhập thứ ba. Rồi tới năm 2021 mình mới biết thế nào là khoản thu nhập thứ tư khi xuất bản sách. Ôi thật ngô nghê làm sao trong khi nhìn xung quanh bạn bè mình bao người đi buôn bất động sản, bán hàng ầm ầm tiền vô rào rào. Nhưng mình cũng không lấy đó để so sánh bao giờ, vì mình tự biết mình là ai, năng lực đến đâu, sở trường là gì và mình muốn sống một đời sống như thế nào. Nên giờ mình hài lòng với bốn khoản thu nhập khiêm tốn đó. “Nếu sống bớt nhu cầu và đơn giản/Thì thiếu gì khoảnh khắc để cười vui”. Winlinh viết thế và mình tin là thế 😍.
Nhắc đến huyện Trùng Khánh của tỉnh Cao Bằng, nhiều người sẽ liên tưởng tới những thắng cảnh nổi tiếng như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, núi Mắt thần, hồ Thang Hen… Tuy nhiên, ít ai biết rằng Trùng Khánh còn có một địa danh rất ấn tượng đáng để khám phá, đó là hồ Bản Viết.
Hồ Bản Viết là một hồ nước ngọt nhân tạo nằm ẩn sâu trong cánh rừng tự nhiên thuộc địa phận hai xã Phong Châu và Tân Phong của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Bên cạnh chức năng điều tiết nước tưới tiêu cho đất canh tác nông nghiệp cho bà con trong vùng, hồ còn là địa điểm du lịch được yêu thích bởi cảnh quan đặc sắc nên thơ. Hồ rộng 5 ha, dài hơn 6km, sâu 50m, được chia làm bốn nhánh với hệ sinh thái và thảm thực vật đa dạng, phong phú.
Đến với hồ Bản Viết, du khách có thể lựa chọn hình thức du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng để thư giãn và tái tạo sức khỏe như cùng người thân, bạn bè cắm trại, nhóm lửa, tụ tập ăn uống, hát ca hoặc dành thời gian đạp xe quanh hồ tận hưởng cảm giác thư thái tĩnh tại sau những ngày bận rộn. Nếu muốn trải nghiệm cảm giác mạnh hơn, bạn có thể đi rừng, leo núi để khám phá trọn vẹn cảnh quan hùng vĩ nơi đây. Còn gì thú vị hơn khi chân được bước trên những đám lá khô lạo xạo trong rừng vắng, mũi được hít hà mùi của cây cỏ hồn nhiên, tai được lắng nghe tiếng chim kêu chíu chít trên những tàng cây cao đầy nắng. Đặc biệt, bạn đừng quên trải nghiệm cảm giác đi thuyền bè trên hồ rất thi vị. Người dân địa phương nơi đây sẽ đưa bạn đi thăm hồ trên những chiếc bè mảng để khám phá cảnh vật, bạn sẽ thấy mình như đang lạc vào chốn thần tiên ảo diệu. Quanh bạn chỉ còn ánh nắng lấp lánh chiếu qua hàng cây soi bóng mặt hồ, gió hiu hiu thổi, những con sóng lăn tăn gợn nhẹ nhàng, bầu không khí thiên nhiên êm dịu thoáng đãng. Mặt hồ xanh biếc như ngọc soi gương những đám mây trắng lững lờ trôi. Ngước nhìn lên, những ngọn núi xám trập trùng đan xen nhau giữa muôn trùng cây cỏ, bầu không khí mát rượi trong lành ấy sẽ giúp bạn hoàn toàn thư giãn và quên hết những xô bồ bụi bặm ngoài kia.
Khi du lịch hồ Bản Viết, bạn hãy thu xếp thời gian hợp lý để được ngắm cảnh vào buổi bình minh đầu ngày tuyệt đẹp. Thức dậy sớm, bạn sẽ được chứng kiến những màn sương trắng vây phủ buông la đà trên mặt nước tịch mịch. Thấp thoáng bóng người đang chèo thuyền trên mặt hồ tĩnh lặng tựa như một bức tranh thủy mặc trong miền cổ tích. Khoảnh khắc ấy sẽ dần được biến chuyển khi mặt trời lên, những tia nắng xiên qua và tạo nên một ảo ảnh khói sương rực rỡ đầy màu sắc. Cho đến khi sương tan, nắng đã lên cao, hồ trở nên quang đãng và sáng rỡ một vẻ đẹp đầy sức sống. Lúc này, bạn sẽ nhìn thấy tòa vọng lâu nằm yên bình nổi bật giữa hồ với mái ngói đỏ tươi trên nền sơn màu trắng. Đây cũng là địa chỉ check in lý tưởng của du khách, là điểm nhận diện của hồ Bản Viết trong các bức ảnh lưu niệm. Rồi khi chiều dần buông, cảnh sắc vẫn không kém phần quyến rũ. Hoàng hôn khuất dần sau cánh rừng sâu, nhuộm đỏ sẫm cả mặt hồ lăn tăn tiếng gió đuổi nhau trên mặt nước lấp lánh ánh ánh sáng của mặt trời sắp tắt.
Hồ Bản Viết mùa nào cũng đẹp, bởi mỗi mùa sẽ có những đặc trưng riêng của nó. Mùa xuân, hoa lá đâm trồi nảy lộc, đua nhau khoe sắc thắm. Mùa hạ, cây cỏ xanh mướt, khỏe khoắn tắm mình trong ánh nắng vàng ruộm. Nhưng cảnh sắc được xem là ấn tượng và nên thơ nhất chính là vào thời điểm cuối thu và đầu đông, lúc rừng lá phong chuyển màu từ xanh thẫm sang vàng sậm rồi rực đỏ. Khi ấy, cả vạt rừng như bừng tỉnh giấc, tỏa sắc rực rỡ và căng tràn sức sống mới. Cây lá đỏ chính là cây Phong Hương, còn gọi là cây Sau Sau, thuộc họ cây gỗ lớn, có thể cao tới 10m. Cây mọc hoang rải rác ở vùng rừng núi Cao Bằng nhưng tập trung dày ở khu vực rừng quanh hồ Bản Viết. Lá phong có màu đỏ đẹp nhất vào quãng cuối tháng 12 nên đây chính là giai đoạn rất nhiều du khách tìm đến để được tận hưởng không gian đẹp đẽ này. Lá phongcó mùi thơm và có thể ăn được nên thường được người dân nơi đây dùng để đồ xôi ngũ sắc hoặc ăn kèm với các món như rau sống. Nhìn từ trên cao xuống, rừng phong như một bức tranh khổng lồ vừa được người họa sĩ tài hoa đang phẩy những nét hoàn thiện cuối cùng, làm nên một bức tranh đẹp đến siêu thực lay động lòng người. Đến thăm hồ Bản Viết vào mùa phong thay lá, bạn sẽ được đắm chìm trong cảnh sắc thần tiên và đem về cho mình thật nhiều bức ảnh có một không hai trong đời.
Sau khi thăm hồ Bản Viết, bạn có thể đi khám phá những thôn làng nhỏ của người dân tộc Tày, Nùng sinh sống quanh đó để tìm hiểu về bản sắc văn hóa và nếp sinh hoạt của bà con nơi đây. Men theo những lối đi vào làng, bạn sẽ được ngắm nhiều ngôi nhà sàn cổ xây bằng đá với kết cấu khá độc đáo. Người dân nơi đây quanh năm sinh sống yên bình, chăm chỉ làm nông và trồng cây dẻ, cây mác mật… Sau khi thăm thú làng bản, bạn hãy khám phá thế giới ẩm thực đặc sắc của Cao Bằng với những món ngon đậm đà hương vị núi rừng sông suối của vùng Đông Bắc tổ quốc. Đó là bánh cuốn dẻo mịn, xôi ngũ sắc hay xôi trám bùi ngậy, nằm khau dẻo vị khoai môn thơm mùi mác mật, lạp sườn đượm mùi gác bếp, rau bò khai giòn tươi xanh, vịt quay thất vị đỏ au đậm đà, rượu men lá nồng ấm và hạt dẻ Trùng Khánh bạn mua mang theo trên đường về còn nóng thơm hôi hổi trong túi…
Chia tay nơi này, du khách không khỏi vấn vương mong một ngày sẽ được quay trở lại. Để được ngắm những đồng cải hoa trắng nở rộ mỗi khi đông về. Được thả mình trôi thong thả trên mặt hồ lăn tăn sóng gợn. Được ngắm cánh rừng bạt ngàn lá phong đỏ ối soi bóng nước trong. Được đắm mình trong không gian cổ tích khiến lòng ai quên hết những muộn phiền.
Quản Bạ là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Giang, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 46km về phía Bắc. Đây là nơi quy tụ nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Dao chiếm số lượng đông đảo nhất. Người Dao đỏ ở Quản Bạ có phong tục, tập quán, tín ngưỡng và văn hóa rất đặc trưng, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của một vùng đất mà ai đã đến hẳn sẽ không muốn rời.
Tới thăm mảnh đất Quản Bạ núi non hiền hòa, du khách sẽ được gặp những người Dao đỏ chân chất trong các phiên chợ nhộn nhịp sắc màu, trên nương rẫy trù phú hoặc dưới các mái nhà lợp ngói âm dương cổ kính. Họ dường như hài lòng với cuộc sống giản đơn ấy, cứ chăm chỉ làm lụng và say sưa ca hát giữa núi rừng thư thái bình yên. Người Dao sinh sống ở nhiều vùng miền nhưng sinh hoạt cộng đồng vẫn mang tính khép kín. Họ duy trì giao tiếp bằng ngôn ngữ Dao và luôn ý thức phải truyền lại ngôn ngữ ấy cho các thế hệ sau. Khi dựng vợ, gả chồng cho con, người Dao cũng muốn gả trong cộng đồng để giữ được ngôn ngữ và phong tục tập quán của tộc người mình. Công việc quen thuộc của người Dao đỏ chủ yếu là làm nương rẫy để trồng lúa ngô, chăn nuôi, làm trang sức bạc, dệt vải, thuê thùa, trồng cây thuốc, trồng bông, làm nông cụ và se hương… Dân tộc Dao đỏ cùng các dân tộc anh em quanh vùng thường tham gia các buổi chợ phiên Tráng Kìm, Quản Bạ để cùng trao đổi, bán mua và giao lưu văn hóa. Những ngày có phiên chợ, người Dao đỏ lại xúng xính váy áo thổ cẩm sặc sỡ, trên lưng gùi nông sản, thực phẩm, trên tay đôi khi dắt cả vật nuôi… xuống chợ tụ họp.
Văn hóa tâm linh là yếu tố vô cùng quan trong trong đời sống dân tộc Dao, thể hiện đặc biệt qua các nghi lễ cúng bái và lễ hội. Người Dao đỏ có nhiều lễ và hội đặc sắc như lễ cấp sắc, lễ nhảy lửa, lễ ma khô, ngày kiêng sấm sét, ngày kiêng hổ… Người Dao đỏ còn có lễ bắt cá rất vui nhộn vào tháng ba âm lịch hàng năm. Khi ấy, các nam thanh nữ tú sẽ thi nhauc bắt cá, ai bắt được nhiều cá và bắt được cá to thì rất phấn khởi vì tin rằng gia đình mình sẽ có một năm đủ đầy, may mắn, bình an. Số cá bắt được tại lễ hội sẽ gom lại và chia đều cho các nhà, và những con cá ấy cũng được làm cơm để cúng tổ tiên. Đặc biệt, đối với người Dao, lễ cấp sắc là một trong những lễ rất quan trọng vì họ quan niệm người được cấp sắc mới thực sự là người trưởng thành, có quyền tham gia vào công việc của làng và khi chết mới được về với tổ tiên. Lễ cấp sắc dành cho con trai từ 10 tuổi trở lên, thường kết hợp làm cho nhiều người nên sẽ có nhiều thầy cúng phụ trách. Lễ được tổ chức trong suốt 2 – 3 ngày gồm rất nhiều nghi lễ cầu kỳ. Các thầy cúng sẽ đánh trống làm lễ khai đàn để mời tổ tiên về dự và xin phép tổ tiên được làm lễ cấp sắc cho đứa trẻ. Tại lễ thụ đèn, người thụ lễ được cấp đạo sắc với 10 điều cấm, 10 điều nguyện và được cấp pháp danh cũng như tên âm để khi chết họ được về với tổ tiên. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng gạo từ thầy cúng và cha mình rồi nhảy một số điệu theo chỉ dẫn. Cuối buổi lễ, các thầy cúng múa dâng rượu và lễ vật để tạ ơn các thần linh đã cho phép tổ chức lễ.
Về trang phục, người Dao đỏ luôn duy trì được bản sắc truyền thống đậm nét. Những người mẹ, người bà nơi đây truyền dạy cho con, cháu gái mình kỹ thuật dệt vải, thêu thùa từ bé nên phụ nữ Dao nào cũng sẽ tự may được cho mình, cho gia đình những bộ trang phục đẹp. Các đường thêu của người Dao đỏ chủ yếu là những hoa văn, họa tiết hình cây cỏ, hoa lá. Những đường chỉ thêu tỉ mỉ, cầu kỳ và cân xứng, thể hiện sự chăm chỉ cũng như tâm hồn và sức sống tươi mới của đồng bào Dao nơi đây. Quần áo của đàn ông Dao khá đơn giản, màu tối, khi trời lạnh, họ thường đội mũ nội và cổ quàng những chiếc khăn nhiều màu sắc. Trong khi đó, trang phục của người phụ nữ Dao đỏ lại rất cầu kỳ. Họ chú trọng nhấn nhá và trang trí ở các đường nẹp áo, gấu quần, hai bên ống tay, ngực áo và thắt lưng. Các bà, các cô thường mặc áo quần màu đen bên trong, bên ngoài xếp các lớp trang trí cầu kỳ gồm các dải vải buông dài quanh thân váy thêu hoặc in họa tiết rực rỡ. Bên cạnh các mảng thêu hoa văn trên ngực, họ còn gắn các dây hạt cườm nhiều màu sắc điệu đà nơi eo. Người Dao chuộng trang sức bạc nên trong các dịp quan trọng, họ thường đeo rất nhiều bạc lên cổ và quanh hông. Về mũ đội đầu, người phụ nữ Dao nơi đây thường vấn một chiếc vấn tròn màu đen cài cùng một chiếc khăn thổ cẩm với hai đuôi khăn chĩa thẳng lên cao. Phía sau lưng, họ sẽ quàng một chiếc khăn tua dua màu hồng hoặc pha trộn thêm các màu sắc khác, tạo điểm nhấn trong một tổng thể hài hòa và vô cùng điệu đà. Trang phục với người phụ nữ Dao đỏ không chỉ để che thân mà còn là nơi gửi gắm bao ước mơ, khát vọng và ẩn chứa những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh quan vừa giản đơn mà cũng vừa kỳ bí.
Nơi núi rừng nguyên sơ bốn mùa đều đặn đi qua, người Dao đỏ vẫn tiếp nối mạch sống đặc trưng, đậm đà hơi thở nguồn cội. Mặc cho ai đến rồi lại đi, người dân nơi đây vẫn sống đời sống thuần hậu của riêng mình mà không hề hay biết mình đang góp phần gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa đậm đặc, đa dạng của dân tộc Việt 54 anh em. Ai đó vừa rời Quản Bạ về xuôi, cứ bồi hồi nhớ mãi những dáng váy rộn rã sắc màu thấp thoáng nơi dẻo núi cheo leo, hệt như những vạt hoa xinh đang nhiệt thành nở rộ trong một chiều hoàng hôn nắng vàng lấp lánh.
Một bài giới thiệu sách đã rất xa xưa, nay lưu vào để giữ tư liệu ở blog cho tiện tra cứu.
Theo xu hướng hiện nay, càng ngày độc giả càng ham thích thể loại sách liên quan đến kỹ năng sống, bởi lẽ những gì nó đề cập là những gì bạn đọc thực sự cần cho cuộc sống của chính họ. Các bậc cha mẹ luôn mong muốn con cái mình được hạnh phúc và bình an. Tuy nhiên để có được điều đó thì không hề dễ dàng. Quan niệm làm hết mình để có đủ điều kiện lo lắng, chu cấp cho con đầy đủ mọi thứ là hoàn toàn sai lầm. Nếu bạn cứ bao bọc con bạn mãi, liệu chúng có lớn đủ về tinh thần, trí tuệ và bản lĩnh? Cẩm nang Kỹ năng dã ngoại sẽ là một trong những cuốn sách giúp các bậc cha mẹ hiểu rằng, muốn con cái mình bình an, hạnh phúc, hãy tập cho chúng cách đối mặt với thực tế, khắc phục khó khăn từ những điều nhỏ nhất. Chính sự trải nghiệm và vượt khó sẽ giúp những đứa trẻ trưởng thành và biết trân trọng cuộc sống hơn.
Cuốn sách do Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành tuy chỉ dày chưa đến 200 trang nhưng chứa rất nhiều thông tin hữu ích đối với các bậc phụ huynh và con cái mình. Các tác giả Dương Vũ (chủ biên), Trần Ngọc Đoàn, Hàn Ngọc Lương, Phan Thanh Tùng viết cuốn sách này với mong muốn người lớn hãy dạy trẻ biết tự rèn luyện khả năng chịu đựng khó khăn, bất hạnh và vượt qua trở ngại vì đối với quá trình trưởng thành của trẻ, khó khăn và vấp váp là trường đại học tốt nhất. Với lối dẫn truyện sinh động, các tác giả sẽ kể về những “trò nghịch” của các bé trai, dạy các em một loạt kỹ năng để sinh tồn trong tự nhiên và khuyến khích những đứa trẻ tích cực khám phá cuộc sống bằng sự dũng cảm, đam mê. Sách cũng luôn nhắc nhở các em rằng, cần tự tin để khám phá, cần đam mê để phiêu lưu, nhưng cũng rất cần cẩn trọng để tránh gặp những nguy hiểm luôn rình rập.
Ngày nay, các chuyến sinh hoạt dã ngoại, tham quan ngoài trời là xu hướng và là nhu cầu không thể thiếu trong thanh thiếu nhi. Còn gì thích hơn khi được hít thở không khí trong lành của đồng ruộng, sự hoang sơ của rừng sâu và sự tươi vui xôn xao của biển cả. Còn gì vui hơn khi ta tự làm nên những cuộc vui đó bằng chính đôi tay và khối óc mình. 47 mục trong cuốn sách là 47 bài học vui vẻ, thú vị và hữu ích. Bạn đọc sẽ thích mê khi được học các kỹ năng thực tế để chinh phục những thử thách, đặc biệt là chinh phục và hòa nhập cùng thiên nhiên. Các em có thể học cách làm một chiếc võng chắc chắn để tự mình cảm nhận sự lâng lâng khi nằm trên nó. Các em cũng có thể theo sách mà làm được súng cao su và tự dựng lều trại trong rừng phòng sương gió và thú dữ. Các em cũng có thể cùng nhau kết bè để bơi sông tránh những nguy hiểm dưới dòng nước sâu không thể lường. Sẽ thú vị thế nào khi các em học được cách nhìn mây đoán diễn biến thời tiết, nhìn sao để nhận biết phương hướng. Sẽ tuyệt vời làm sao khi bạn trẻ có thể chỉ cho nhau cách nhận biết những chòm sao kỳ bí trên trời, thấy kia là chòm sao Đại Hùng, đây là chòm sao Tiểu Hùng, kia nữa là chòm sao Thiên Hậu. Bạn nghĩ thế nào khi biết những kiến thức cơ bản về hệ măt trời và nói vanh vách cho mọi người về trọng lượng, nhiệt độ, tuổi của mặt trời. Hẳn mọi người sẽ rất ngạc nhiên về sự hiểu biết sâu rộng của bạn mặc dù trên thực tế bạn chỉ đọc hết 1-2 trang sách trong cuốn sách này. Không cần là bác kiểm lâm, bạn cũng có thể nhìn cây đại thụ biết tuổi đời của nó. Không cần là ngư dân, bạn cũng sẽ được thử sức tát cá để có cá mang về. Bạn cũng sẽ được chỉ cách sản xuất than củi như một người làm than thực thụ. Hay ho làm sao khi chúng ta có thể nhận biết các loại côn trùng cũng như làm thế nào để “thuần chủng” chúng. Bạn cũng sẽ được sách chỉ cho các loại cây trong tự nhiên có thể ăn được để khi ở trong rừng vẫn không bị đói bị khát, từ rau sau, rau sam, rau tàu bay đến rau dớn, quả sung. Và còn nữa những kỹ năng tuyêt vời mà bạn trẻ cần có để bảo vệ chính mình như cách cấp cứu thông thường khi bị đỉa cắn, gãy xương, ngộ độc thực phẩm, ngất, làm thế nào để phòng muỗi đốt, chống đói bằng ếch, dùng thực vật để chữa bệnh…
Với tiêu đề “Thả một chút hy vọng xuống sông”, bạn đọc sẽ cảm thấy rất thú khi được hướng dẫn cách làm chiếc chai hy vọng để gửi chai đó với những thông điệp ý nghĩa cho bạn mình từ thượng du xuống hạ du của dòng sông. Đặc biệt nếu bạn không muốn để ai đọc được nội dung bức thư, bạn có thể học cách viết thư bằng mực tàng hình thật kỳ diệu trong sách. Bạn cũng sẽ có nhiều trò chơi tuổi nhỏ như chơi cờ quân, chọi gà bằng đầu gối, chơi lò cò. Bạn sẽ được thỏa sức sáng tạo với trò chơi trí lực cùng những que diêm nhỏ bé. Còn gì ý nghĩa hơn khi ta được tự tay gói tặng phẩm để tặng bạn bè, vừa vui vừa không tốn tiền. Còn gì sung sướng hơn khi ta được bạn bè ngưỡng mộ gọi là nhà ảo thuật khi ta mở được nút thắt tí hon của một sợi tóc…
Sách được viết bằng lối viết gần gũi và dễ hiểu. Hình minh họa ngộ nghĩnh, sát thực giúp làm rõ ý tưởng bài hướng dẫn vừa tạo sự sinh động cho cuốn sách. Những lời chỉ dạy thủ thỉ, thì thầm như lời chỉ dạy của người bố, lời tâm tình của người anh, người chị sẽ mang đến cho các bậc cha mẹ cảm giác được trở về tuổi thơ, khiến trẻ con dế thấm, dễ ngấm, dễ nhớ những hướng dẫn chỉ dạy từ sách. Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc giáo dục lớp trẻ ở ngoài học đường, sách sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều kiến thức, kinh nghiệm bổ ích, đặc biệt với các em nhỏ, các anh chị phụ trách công tác thanh thiếu niên và các bạn khác được giao trách nhiệm hướng dẫn các em đi cắm trại. Hãy đọc và khám phá, chắc chắn bạn sẽ thích cuốn cẩm nang tuyệt vời này!
Các bài viết dạng này chỉ mang tính lưu trữ, mong bạn blog không thấy phiền.
Khi cầm trên tay bộ sách dịch “Cho các bạn trẻ của thế kỷ XXI” (khổ 11x18cm), hẳn bạn sẽ không khỏi băn khoăn vì những tựa đề là lạ của chúng: Darwin và thuyết tiến hoá – giải thích cho cháu, Toán học – giải thích cho con, Biến đổi khí hậu – giải thích cho con, Văn hoá – giải thích cho con, Cái chết – giải thích cho con, Tình yêu– giải thích cho con, Tinh thần hiệp sĩ – giải thích cho em, Ly hôn – giải thích cho con, Thế kỉ XX – giải thích cho cháu, Thói gia trưởng – giải thích cho con, Đạo lí – giải thích cho mọi người, Lòng nhân đạo – giải thích cho con. Bộ sách có những tựa đề lạ đó sẽ đưa bạn đọc vào một thế giới sinh động của những cuộc trò chuyện có thật, với cách hành văn phù hợp với giới trẻ.
Bộ sách được mua bản quyền theo hợp đồng giữa Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và Nhà xuất bản Seuil (Pháp), trên nguyên gốc là một bộ sách có tới hàng trăm cuốn. Nhà xuất bản Giáo dục đã chọn ra những chủ đề cần thiết nhất với giới trẻ Việt Nam, bước đầu đem đến cho bạn đọc cách tiếp cận vấn đề một cách mới lạ. 12 cuốn sách mỏng như là 12 cuộc trò chuyện về các chủ đề khác nhau, được viết trên cơ sở những cuộc trò chuyện có thật của các chuyên gia với con cái mình. Đó là những vấn đề thiết thực mà con cái họ đặt ra với mong muốn được bố mẹ trả lời một cách rõ ràng, sinh động. Bằng những cuộc trò chuyện vừa gần gũi, sôi nổi, hóm hỉnh, các tác giả đã giải đáp những câu hỏi vừa khá thách thức nhưng cũng đầy ngộ nghĩnh của các em, không quanh co cũng không tránh né. Lối đối thoại nhẹ nhàng, tâm tình giúp chuyển tải nội dung một cách dung dị, thấm thía. Bạn đọc có thể tìm thấy cho mình những câu trả lời đầy thuyết phục và gần gũi thông qua những cuộc đối thoại đó.
Các cuốn sách trong bộ sách trên đã đề cập đến những vấn đề đang là mối quan tâm của toàn thế giới như bình đẳng giới, biến đổi khí hậu… và những vấn đề khoa học bổ ích, những kiến thức cơ bản sẽ theo các em suốt hành trình sống, như thiên văn, toán học, vật lý… Jean – Marc Jancovici chắc chắn sẽ làm say mê các bạn trẻ không chỉ bởi cuốn sách của ông thể hiện một cái nhìn mạch lạc về trạng thái hiện tại của hành tinh chúng ta (điều mà cả trường học hay các phương tiện đại chúng đều chưa làm được), mà còn bởi vì cuộc cách mạng cần thiết đối với các phương pháp tư duy có liên quan trực tiếp đến các bạn trẻ. Sự thiếu hụt dầu mỏ và nóng dần lên của khí hậu sẽ làm biến đổi tất cả: nơi ở, phương tiện giao thông, nghề nghiệp, cách sinh hoạt và tiêu dùng. Thảm họa môi trường sẽ tác động đến xã hội, nếu như không hành động điều đó chắc chắn sẽ xảy ra. Đây đồng thời cũng là cơ hội tuyệt vời để giải phóng sự sáng tạo và trí tưởng tượng, để suy nghĩ về ngành nghề tương lai với đầy đủ ý thức về các nguy cơ. Liệu các bậc cha mẹ “nghiện dầu mỏ” hiện nay có thể có những người con sáng suốt và khôn ngoan hơn họ? Cuốn sách “Biến đổi khí hậu – Giải thích cho con” có thể đóng góp vào điều đó.
Bên cạnh đó, những khái niệm trừu tượng như nhân đạo, văn hóa, đạo lý, cái chết… cũng được các tác giả giải thích cặn kẽ, khoa học, hợp lý. Bà Emmanuelle Huisman-Perrin là giáo viên triết học tại một trường phổ thông trung học, hiện đang điều phối chương trình giảng dạy về “Cái chết trong tương lai” của Viện nghiên cứu chính trị, đã coi trò chuyện với một đứa trẻ về cái chết có thể là một trong những cách tốt nhất để tiếp cận sát nhất với cuộc sống, để cố gắng đẩy lùi sự im lặng và nỗi lo sợ của con người đối với cái chết. Đó là một cách tiếp cận đặc biệt, nhưng khá thực tế. Về vấn đề nhân đạo, Jacky Mamou – tác giả cuốn sách cho rằng: Đây không phải là vấn đề dễ dàng nếu ai đó muốn nói về nó một cách trung thực. Những trang sách này sẽ tìm cách làm rõ điều ấy, giúp các em trả lời một câu hỏi đơn giản những rất cơ bản: Chúng ta đã làm được gì để giúp đỡ những người bất hạnh?
Ngoài ra, bộ sách cũng không quên trang bị cho các bạn trẻ kỹ năng sống về các vấn đề tình yêu, ly hôn khi các chương trình giảng dạy ở trường chưa có điều kiện đi sâu và cha mẹ học sinh còn chưa có phương pháp truyền đạt phù hợp cho con cái mình. Những “chuyện người lớn” mà các bậc cha mẹ học sinh Việt Nam vẫn thường lảng tránh, không muốn trao đổi thẳng thắn với con cái, nếu có phải nói tới thì cũng hoặc là ấp úng vòng vo, hoặc át giọng cho qua chuyện, với lí do “trẻ con chưa đến tuổi cần biết”, được các tác giả bộ sách đề cập bằng một lối trò chuyện gần gũi, hóm hỉnh, cởi mở và cũng không kém phần sâu sắc, lắng đọng. Câu chuyện của Patricia Lucas – một nhà quản lí nghệ thuật, mẹ của 3 đứa con 16 tuổi, 14 tuổi và 6 tuổi hiện đang chung sống với Stephane Leroy – một nhà biên tập, bố của hai đứa con 12 tuổi và 9 tuổi, cả hai đều đã từng li hôn, hiện đang sống chung với 5 đứa con của mình, sẽ là ví dụ sinh động, thực tế nhất cho vấn đề li hôn. Hai tác giả cuốn sách Nicole Bacharan và Domminique Simonnet đã giải đáp những câu hỏi thách thức của các em vị thành niên trên con đường dẫn tới “kho báu đáng gờm: tình yêu” để giúp các em tránh khỏi những sai lầm lớn trên con đường khúc khuỷu đang mở ra trước mắt các em.
Có thể nói, bộ sách trên là cuốn cẩm nang không chỉ cho bạn trẻ mà còn cho các bậc phụ huynh, góp phần giáo dục trẻ vị thành niên những kỹ năng sống, giá trị sống, bài học làm người. Với phương pháp dịch dễ hiểu, văn phong trong sáng, phù hợp với tâm lý người Việt; cách trình bày đẹp mắt, hiện đại, màu sắc rực rỡ, cuốn hút; nội dung thiết thực, bổ ích… bộ sách sẽ là món quà độc đáo và lý thú đối với độc giả. Trong một bối cảnh xã hội hội nhập, đa chiều và đầy phức tạp như hiện nay, học sinh Việt Nam cần phải được trang bị nhiều hơn những gì mà nhà trường phổ thông có thể trang bị – những hiểu biết sống động, thiết thực, phù hợp với đòi hỏi của đời sống. Điều đó sẽ giúp các em chủ động hơn, tích cực hơn trong việc tham gia vào đời sống ngay từ bây giờ. Vậy ngay bây giờ, bạn hãy để tủ sách gia đình mình đón thêm một bộ sách mới, để tâm hồn mình sẽ nhẹ nhàng, thông suốt hơn sau khi gấp những trang sách lại.
Một bài cảm nhận sách viết và đăng cách đây đã rất nhiều năm.
Có thể thấy, càng ngày nhu cầu hiểu biết của con người càng lớn. Con người không chỉ học những gì cơ bản, hạn hẹp mà còn khát khao được tiếp cận với những điều phong phú, đẹp đẽ của thế giới, bởi quan niệm thẩm mỹ của chúng ta cũng dần dần trở nên tinh tế hơn. Những cuốn sách khoa học kỹ thuật, sách giáo khoa, tiểu thuyết, sách kỹ năng làm giàu… luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, nhưng cũng không thể phụ nhận được sức hút của những cuốn sách có chủ đề về âm nhạc, hội họa, nhiếp ảnh… đang ngày càng khẳng định vị trí của mình một cách vững chắc. Chính những cuốn sách này mang đến cho chúng một cái nhìn cởi mở, sâu sắc hơn về nghệ thuật, về cái đẹp và những giá trị tuyệt vời của cuộc sống. Mong muốn đưa bạn đọc đến gần hơn với những tinh hoa của thế giới, NXBGD đã cho ra đời bộ sách “Truyện kể về các danh họa thế giới” gồm 3 tập của các tác giả Ngọc Phương, Nguyệt Minh, Ngân Hà. Bộ sách này nằm trong “Tủ sách Truyện kể” cùng với rất nhiều bộ sách khác như “Truyện kể về các nhà văn Việt Nam”, “Truyện kể về thần đồng thế giới”, “Truyện kể về các nhạc sĩ thiên tài trên thế giới”…
Mở sách ra, bạn đọc có một cảm giác rất dễ chịu, bởi cuốn sách ngoài những câu chuyện kể nhẹ nhàng còn xen kẽ rất nhiều hình ảnh đẹp. Đó là những bức chân dung của các nhà danh họa, những người trước đó chúng ta thường chỉ nghe tên mà ít thấy mặt. Đó là những bức tranh nổi tiếng thế giới đã khiến biết bao người rung động, thổn thức. Chỉ với 3 cuốn sách này, chúng ta dường như đã nắm bắt được cả thế giới hội họa trong tay. Bạn đọc có thể tìm thấy những nét khái quát, những giai thoại về cuộc đời của các họa sĩ và những tác phẩm của họ, qua đó có thể lí giải được vì sao và con đường nào đã dẫn dắt họ trở thành những danh họa của thế giới, góp phần làm cho nền mĩ thuật thế giới ngày một thêm phong phú, sinh động. Những câu chuyện về các danh họa cứ nhẹ nhàng thấm vào lòng người, khiến người đọc cảm thấy các họa sĩ cách xa mình hàng thế kỷ đang gần gũi đâu đây. Họ cũng có một đời sống bình dị nhưng có thể làm được những điều lớn lao, tại sao mình lại không thể, đó chính là động lực và niềm tin và khát khao sáng tạo mà người đọc tìm thấy qua cuốn sách.
Bộ sách không phiên âm tên của danh họa cũng như các tác phẩm của họ, bởi đối tượng độc giả của sách ngoài giáo viên, bạn đọc thông thường là các em học sinh từ cấp Trung học cơ sở trở lên, các em cần làm quen và tiếp xúc với các danh họa và tác phẩm của họ ở dạng nguyên ngữ, điều đó sẽ hữu ích cho các em trong việc tiếp xúc với các tư liệu, tài liệu khác trong cùng lĩnh vực và phù hợp với quy ước quốc tế. Và tên của các danh họa cũng được tác giả viết ngắn gọn, là tên thường gọi để bạn đọc không cảm thấy khó nhớ. Ở mỗi câu chuyện kể về một danh họa, cuốn sách đặt một tiêu đề ngắn gọn như là một lời đúc kết về cuộc đời, sự nghiệp của họ. Đó có thể chính là một câu nói của danh họa, hoặc nhận xét của giới chuyên môn về tài năng, phong cách của danh họa… nhưng nhìn chung nó toát lên được toàn bộ tinh thần về cuộc đời và sự nghiệp của các danh họa.
Lật giở từng trang sách, bạn đọc có thấy thể những cái tên quen thuộc như: Sandro Botticelli – Người trang hoàng tình yêu và sắc đẹp, ông nổi tiếng với bức tranh Thánhnữ và hài đồng, Mùa xuân, Sự ra đời của thần Vệ nữ; Pieter Bruegel, người được mệnh danh là họa sĩ của nông dân, tên tuổi của ông gắn liền với những bức tranh vẽ về đời sống hàng ngày của nông thôn và những người dân quê chân chất. Ông nổi tiếng với bức tranh Nhữngtrò chơi của trẻ em được vẽ chi tiết miêu tả 250 đứa trẻ đang chơi trò chơi, ẩn sau đó chính là lời nhắn nhủ, những việc người lớn làm hàng ngày phải chăng cũng chỉ như những trò chơi của trẻ con nên đừng phung phí thời gian vào những việc không đâu; Paul Cézanne – Người mở đường cho hội họa hiện đại đã tìm ra một con đường riêng, đem đến cho thế giới quan niệm mới về đối tượng của hội họa, về giá trị tự thân của bức hội họa; Isaac Ilyich Levitan, nhà thơ của hội họa Nga, nổi tiếng với những bức tranh tranh thiên nhiên Nga tuyệt đẹp, những bức tranh làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn Nga khiến nó trở nên bất diệt. Những bức tranh Buổichiều trên sông Vonga, Rừng bạch dương, Mùa thu vàng, Cái yên tĩnh vĩnh hằng, Tháng ba, Tu viện yên tĩnh… được rất nhiều người Việt Nam yêu thích; Michelangelo Uinarroti là người cùng với Leonardo de Vinci và Raffaello Santi tạo ra 3 tượng đài nghệ thuật vĩ đại nhất trong thời kỳ Phục hưng đỉnh cao. Ông nổi tiếng với những tác phẩm Cuộcchiến của những con nhân mã, Buổi phán xét cuối cùng, Tượng David, Nhà tiên tri Mose; Vincent Van Gogh được gọi là người điên thiên tài, được Picasso đánh giá là “người họa sĩ mà cuộc đời là mẫu mực đến tận lúc chết và kể cả cái chết”. Những bức tranh như Nhữngngười ăn khoai, Căn nhà màu vàng của Vincent, Bác sĩ Gachet, Hoa hướng dương… được người đời đánh giá là những bức tranh xuyên thấu lòng người; Leonardo da Vinci – Người khổng lồ trong hội họa thời Phục hưng; Đại danh họa Pablo Picasso – Nhà danh họa lớn nhất thế kỷ XX người Tây Ban Nha, mới 14 tuổi đã thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Barcelona với điểm ưu. Mọi người kể rằng, bài dự thi quy định làm trong hai tuần, vậy mà Picasso chỉ làm mất có vài giờ và đã được xếp hạng A, và mới học năm thứ nhất, ông đã có triển lãm đầu tiên tại quán cà phê Els Quatre Gats. Rồi những tác phẩm nổi tiếng lần lượt ra đời như Nhữngcô gái ở Avignion, Gia đình người làm xiếc, Căn phòng xanh, Nhạc sĩ phong cầm; Gặp Từ Bi Hồng – Người cha của hội họa Trung Quốc hiện đại, bạn đọc sẽ được tiếp cận với một trong hai danh họa vĩ đại nhất của Trung Quốc thế kỷ XX và là một trong những danh họa lớn của thế giới. Họa sĩ Từ Bi Hồng nổi tiếng với những bức tranh ngựa – những con ngựa bất kham, hí vang, tung vó tự do trong không gian mênh mông. Những nét vẽ của ông mềm mại, bay bổng và đầy hồn phách và đã khiến người xem thực sự bị thuyết phục và ông đã mở triển lãm ở rất nhiều nước châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ, Ý, Liên Xô… Và còn nhiều nữa những tên tuổi họa sĩ mà nhắc đến họ ai cũng cảm thấy ngưỡng mộ, kính phục và là tấm gương về lòng đam mê nghệ thuật, tinh thần làm việc hăng say cho tất cả chúng ta.
Cuốn sách sẽ mang lại cho giáo viên và các em học sinh những thông tin, tư liệu quý giá để nâng cao tầm hiểu biết của mình về lĩnh vực hội họa, đồng thời cũng góp phần tăng hiệu quả và hứng thú dạy và học và môn học mỹ thuật trong trường học. Giáo viên và học sinh có thể xem đây là cuốn sách tham khảo bổ ích không chỉ phục vụ cho giảng dạy và học tập mà còn khiến tâm hồn ta trở nên mềm mại, bay bổng và sâu sắc. Sách do Nhà Xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2009, khổ 13×20.5cm, trình bày đẹp mắt… là ấn phẩm mà bạn đọc nên có trong tủ sách gia đình mình.
Đây là hai bài cảm nhận đã rất xưa, từng đăng trên tạp chí Sách và Thư viện trường học, nay gom lại vào đây để lưu trữ.
Bạn nghĩ sao nếu trên tay bạn lại có một tập sách dày với hàng trăm nét chữ của những người bạn hằng ngưỡng mộ và yêu quý? Hẳn bạn sẽ phải mỉm cười vui sướng hay ít ra cũng cảm thấy háo hức muốn tiếp tục lật giở những trang tiếp theo xem diễn tiến của nó ra sao. Tôi thì thực sự thích thú khi cầm trên tay cuốn sách đó. Như lúc này đây, khi gõ những dòng chữ này, cuốn sách trước mặt vẫn không thôi kể cho tôi nghe những mẩu chuyện nhỏ về từng gương mặt và từng nét chữ gợi lên ngút ngát một vùng ký ức đậm sâu. Đó chính là Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam – một cuốn sách không chỉ mang tính tra cứu, liệt kê mà gửi gắm trong đó là tiếng nói tri ân đến người nghệ sĩ đã sáng tạo ra những con chữ để đời.
Tác phẩm là sản phẩm hoàn hảo nhất được đưa đến tay bạn đọc. Thường bạn đọc chỉ chú trọng đến tác phẩm mà không mấy khi quan tâm nhiều đến người tạo ra chúng. Còn tác giả sau khi đã dày công tạo ra những đứa con tinh thần đầy nhiệt huyết thì chỉ luôn lặng lẽ đứng phía sau đón nhận hào hứng những phản hồi của độc giả. Người đọc ít khi có cơ hội được biết về tác giả của những tác phẩm mà họ yêu mến. Tuy cũng có nhiều cuốn sách viết về chân dung các tác giả, nhưng nhìn bao quát ta vẫn chưa thấy có cuốn sách nào tổng hợp và liệt kê được đầy đủ những gương mặt nhà văn giúp bạn đọc hình dung xuyên suốt chân dung những người đã tạo dựng và đang tiếp tục bồi đắp cho con đường dài rộng của văn chương đất Việt. Vì vậy Chân dung và Bút tích nhà văn Việt Nam hẳn đã đáp ứng được sự mong mỏi của nhiều người.
Đây là một công trình quý, được hai tác giả Trần Thanh Phương và Phan Thu Hương dày công tích lũy, lựa chọn trong vòng hơn 30 năm. Vốn là những người yêu thích văn học, ngay từ những năm học ở nhà trường, hai tác giả đã rất cảm phục và quyết tâm tìm kiếm, sưu tầm, lưu giữ những nét chữ, những hình ảnh của các nhà văn. Quá trình sưu tầm, biên soạn của hai tác giả gặp rất nhiều khó khăn mà khó khăn lớn nhất là khâu tiếp cận nhà văn và khâu tìm lại bản thảo, bút tích của những nhà văn quá cố. Nhưng các tác giả với sự tâm huyết của mình đã tạo nên những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa giữa nhà văn và bạn đọc. Cái quý ở đây là tác giả lưu giữ được cả bút tích của các nhà văn đã mất nhằm góp phần phục dựng một cách đầy đủ nhất chân dung nhà văn Việt Nam. Như thế họ không chỉ làm công việc sưu tầm, cắt dán, lưu trữ mà còn giúp bạn đọc hình dung đầy đủ và chân thực nhất về các nhà văn, nếu không có cái tâm, cái tình với văn chương thì khó lòng lưu giữ được nhiều tư liệu có giá trị như thế cho bạn đọc qua bao biến đổi thời gian.
Tập 1:
Người ta thường nói “Xem mặt mà bắt hình dong”, từ trước đến nay chúng ta đều đã nghe tên các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng đến thân thuộc như Nam Cao, Chế Lan Viên, Bùi Giáng, Nguyễn Tuân, Tố Hữu, Phùng Quán… nhưng ít ai đã được gặp gỡ họ, dù chỉ là trong ảnh, người ta gọi đó là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”. Nhưng giờ đây chúng ta có thể thấy chân dung họ, những nét chữ của họ để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những tác giả mà chúng ta yêu mến. Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam đã ký họa được cái thần không phải trên gương mặt mà trong tâm hồn các nhà văn. Họ đã đến thật gần với bạn đọc thông qua những bút tích diệu kỳ. Mỗi nét chữ đều mang trong mình một hồn vía chất chứa bao tâm sự buồn vui. Đọc chữ in, người ta chỉ có thể cảm nhận được nội dung tác phẩm, còn xem những nét bút tự tay tác giả viết thì ta có thể nắm bắt được những rung động từ đáy tâm tư họ. Tâm trạng khi đặt bút sẽ tạo nên nét bút đậm nhạt, run run, lo sợ hay cứng cỏi, vững chãi. Nhìn nét chữ, ta như cảm thấy được chạm vào quá khứ, chạm vào thời khắc tác giả đang thả hồn mình vào trang viết, chạm được vào những tâm tư của người nghệ sĩ. Nét chữ Nguyễn Bính nhỏ nhắn lành hiền. Nét chữ Thu Bồn phóng khoáng bay bổng. Nét chữ Tản Đà nghiêng nghiêng mềm mại. Nét chữ Phạm Hổ điềm đạm. Nét chữ Giang Nam thong thả. Nét chữ Nguyên Ngọc hun hút gió rừng. Nét chữ Viễn Phương như những chiếc lá non mới bật mầm trong vườn một sớm. Nét chữ Thâm Tâm rạp đều như sóng lúa. Nét chữ Hoài Thanh như những đốm nắng gieo từng giọt trên thềm nhà. Nét chữ Hoàng Trung Thông khoáng đạt hào khí. Nét chữ Võ Văn Trực ngay thẳng như cái tên của nhà văn. Chữ Hàn Mạc Tử ngẫu hứng như ánh trăng thu lúc khuất sau mây lúc lồ lộ rõ. Chữ Lê Anh Xuân mộc mạc yên bình. Nữ sĩ Mộng Tuyết lại khiến người đọc hình dung ra tư thế viết ấn mạnh ngòi bút vào trang giấy với sự chú trọng vào câu chữ hết sức tuyệt đối. Nguyễn Bùi Vợi lại mang đến một nét bút dẻo mềm như nét chữ cô gái đôi mươi viết thư cho người thương của mình. Trong khi đó Diệp Minh Tuyền lại cho ra một đôi hàng chữ to và rõ, mà mỗi con chữ giống như những quả táo xanh mới hái trên đồi. Nguyễn Đình Thi gửi trong nét bút của mình tâm hồn hào hoa của một người trai Hà Nội hừng hực lửa chiến đấu mà cũng đầy mộng mơ. Ma Văn Kháng dường như đem vào chữ của mình tiếng lá khô lạo xạo rụng trong vườn một chiều thu gió lớn. Nguyễn Thị Hồng Ngát dịu dàng, nữ tính với nét chữ mảnh mai. Nguyễn Trọng Tạo khua nét bút trên giấy hệt như mái chèo xao động trên dòng sông quê một đêm trăng sáng. Quách Tấn lại mang đến những nét bay nét múa sạch và đẹp, mướt mát như từng chiếc lá đào vừa kịp lớn trong một sớm mùa đông…
Không chỉ có nét chữ, những bức ảnh cũng là chứng nhân lịch sử rõ nét và chân thực còn lưu lại mãi mãi trong cuộc biến đổi của thời gian. Những tấm chân dung đã lưu lại nhiều khoảnh khắc quý giá, phác lên nền ký ức những đường nét của ánh sáng và hình khối. Khuôn mặt Tế Hanh gợi nhắc một thời trai trẻ đầy mộng mơ và hoài bão. Bức ảnh Hoàng Ngọc Phách một nửa đen mờ khiến người xem nhớ lại một “Tố Tâm” thời kỳ đầu khai sinh ra tiểu thuyết tâm lý. Nhà thơ Thâm Tâm đội chiếc mũ nồi trẻ trung quá khiến độc giả thấy ngỡ ngàng vì luôn tưởng tượng ra một thi sĩ trong “Tống biệt hành” đầy ưu tư, lưu luyến từ cuộc chia ly “đầy hoàng hôn trong mắt trong”. Phạm Huy Thông với cặp kính và chiếc trán rộng lại khiến ta nhớ lại một Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học từng van bóng với “Tiếng địch sông Ô”. Nguyễn Bùi Vợi với điếu thuốc trên tay lại phác lên cho mình một nét phiêu du đặc trưng của người nghệ sĩ… Những bức ảnh đen trắng hay màu đều lưu lại trong nó những dấu ấn thời gian, khiến người xem không khỏi không rung động và ít nhiều hoài niệm về chân dung những ngòi bút đã để lại cho đời bao nỗi suy tư thao thức.
250 chân dung và bút tích các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Việt Nam trong tập 1 cũng đã phần nào phác họa được chân dung những người đem ngòi bút làm đẹp cho đời. Cái hay, cái quý của của cuốn sách này là bên cạnh các nhà văn có tên tuổi còn tôn vinh một số gương mặt tuy chưa phải là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng họ sống và viết chân thành; có người chưa đi hết khát vọng văn chương đã phải ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Có những cây bút tên tuổi, đã từng cống hiến nhiều cho sự nghiệp văn học nước nhà và cũng có những cây bút trẻ đang góp phần cho nền văn học nước mình ngày một giàu có. Tác giả cố gắng hội đủ các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình và dịch giả. Đó là những gương mặt lớp trước, lớp sau kế tiếp nhau xây dựng mái nhà văn nghệ chung ở nước ta. Bút tích của từng người đã giúp bạn đọc hình dung về các nhà văn gần gũi, ấm áp và thật xúc động. Mục đích của cuốn sách không đặt chính ở công dụng tra cứu về thân thế, sự nghiệp nhà văn, mà còn là khơi gợi cảm xúc, sự đồng cảm và chia sẻ, thấu hiểu từ người đọc đến nhà văn, chứa đựng nhiều tình cảm ấm áp, trân trọng của thế hệ sau.
Với 516 trang dày dặn, khổ 20.5×29 cm nằm gọn trong bìa sách cứng cáp in bốn màu đẹp mắt, cuốn sách đã thể hiện tấm lòng tri ân với các nhà văn Việt Nam và sự tôn trọng với những người sở hữu bộ sưu tập. Những trang giấy trắng, nền hoa văn nền nã, cách trình bày ngăn nắp, cách phối màu nhịp nhàng cộng với những bức ảnh sống động, gợi nhắc càng tôn lên giá trị của cuốn sách không chỉ về nội dung mà cả hình thức mang tính nghệ thuật cao. Sách do Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành với mong muốn đem lại cho bạn đọc nhiều bất ngờ và tin tưởng. Tập 2 sẽ xuất bản trong một ngày không xa.
Tập 2:
Vậy là sau một thời gian dài chờ đợi, tập hai của Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam đã ra đời. Nếu tập một của năm 2008 đem lại cho độc giả sự bất ngờ, thì tập hai ra đời đáp ứng được lòng mong đợi của những ai đã quen thuộc với nội dung và mục tiêu của cuốn sách. Tập hai tiếp tục tiêu chí tác giả đề ra là đưa độc giả lại gần hơn những tên tuổi, gương mặt nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình và dịch giả Việt Nam mà họ trân trọng, yêu mến. Mục đích của cuốn sách không đặt chính ở công dụng tra cứu về thân thế, sự nghiệp nhà văn, mà còn là khơi gợi cảm xúc, sự đồng cảm và chia sẻ, thấu hiểu từ người đọc đến nhà văn, chứa đựng nhiều tình cảm ấm áp, trân trọng của thế hệ sau.
Lật giở trang sách, ta thấy cách trình bày quen thuộc xuyên suốt từ tập một. Màu sắc trình bày, phối hợp nền nã khiến người đọc không cảm thấy nhức mắt, bị chi phối bởi cách sắp xếp rối rắm. Tất cả dường như khiêm nhường, nép mình lại để tôn lên từng chân dung tác giả. Phần giới thiệu về mỗi tác giả chủ yếu chia thành ba phần, gồm: Những tác phẩm chính đã xuất bản; Bài thơ hoặc đoạn thơ, đoạn văn tâm đắc; Lời nhận xét của đồng nghiệp. Ba phần tuy ngắn gọn những đã khắc họa được những nét cơ bản và đặc trưng của mỗi tác giả. Đặc biệt, phần làm nên dấu ấn chính là phần bút tích và chân dung các nhà văn. Nếu chỉ đơn thuần là giới thiệu thân thế, sự nghiệp thì bộ sách này cũng như bao cuốn sách khác, có khi còn sơ sài hơn, nhưng nhờ sự sống động và quý giá của bút tích, giá trị của nó đã nâng lên rất nhiều.
Đây là một công trình được hai tác giả Trần Thanh Phương và Phan Thu Hương dày công tích lũy. Trong quá trình sưu tầm, biên soạn, hai tác giả gặp rất nhiều khó khăn mà khó khăn lớn nhất là khâu tiếp cận nhà văn và khâu tìm lại bản thảo, bút tích của những nhà văn quá cố. Nhưng với sự tâm huyết của mình, Thanh Phương và Thu Hương đã tạo nên những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa giữa các tác giả và bạn đọc. Cái quý ở đây là tác giả lưu giữ được cả bút tích của các nhà văn đã mất nhằm góp phần phục dựng một cách đầy đủ nhất chân dung nhà văn Việt Nam. Như thế họ không chỉ làm công việc sưu tầm, cắt dán, lưu trữ mà còn giúp bạn đọc hình dung đầy đủ và chân thực nhất về các nhà văn, nếu không có cái tâm, cái tình với văn chương thì khó lòng lưu giữ được nhiều tư liệu có giá trị như thế cho bạn đọc qua bao biến đổi thời gian.
Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam đã ký họa được cái thần không phải trên gương mặt mà trong tâm hồn các nhà văn. Họ đã đến thật gần với bạn đọc thông qua những bút tích diệu kỳ. Mỗi nét chữ đều mang trong mình một hồn vía chất chứa bao tâm sự buồn vui. Ví như khi nhin nét chữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, ta thấy hiện ra một chân dung đôn hậu với những tác phẩm lưu dấu trong lòng trẻ thơ như “Chú bé rắc rối”, “Kính vạn hoa”, “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”…, nụ cười ông cũng dí dỏm như những dòng chữ ông viết cho tuổi thơ. Rồi người đọc phải ấn tượng với bút tích của nhà thơ Vũ Hoàng Chương bay, phiêu như những vần thơ say nổi tiếng của mình. Nhà thơ Quang Dũng thì có gương mặt điển trai, nét nhìn cương trực, chữ viết nho nhỏ đầy khiêm tốn, mang nhiều tâm tư của một nhà thơ lính yêu con người và thiên nhiên. Người đọc cũng sẽ đồng cảm với nhà văn Võ Thị Xuân Hà, một gương mặt văn chương nữ đằm thắm, nhiều suy tư với nét chữ hiền dịu, nữ tính nhưng cũng không kém phần bay bổng như “bầy hươu nhảy múa” (tên một tác phẩm của nhà văn). Gương mặt của thi sĩ Bàng Bá Lân lại cho chúng ta một cảm nhận đặc biệt vì nét cá tính và mạnh mẽ, thế nhưng lời thơ ông lại được viết ra bình yên dưới ngòi bút nghiêng nghiêng “êm đềm sóng lượn trôi trên lúa” (trích trong “Trưa hè” của Bàng Bá Lân). Tổng Biên tập của báo “Hà Nội tân văn” (1939-1940) Vũ Ngọc Phan lại có nét cười gợi nhiều ký ức với chữ ký thoáng đãng và dài như một áng thơ hay. Nhà thơ Hồng Thanh Quang hẳn sẽ vui khi nhìn thấy bức hình của mình trong cuốn sách, bởi nó gợi nhắc về một thời tuổi trẻ đầy say mê mà như trong dòng chữ ông viết đẹp như họa thì “gương mặt như mầm cây/ vừa trồi lên khỏi đất” (trích trong “Vô chiêu” của Hồng Thanh Quang). Cách viết của nhà báo Phan Quang lại cho người đọc cảm nhận về một trí tuệ lớn, một tâm hồn bao la, như ông tâm sự “tôi là người làm báo, thỉnh thoảng lạc bước sang vườn văn”. Nhà thơ Hữu Ước lại in mình trong một bức ảnh quân phục, một chiến sĩ Công an có gương mặt đôn hậu mà cương nghị với nét chữ bay nghiêng như cỏ lau đổ xôn xao trong một chiều gió, mỗi câu thơ của ông đều cho ta cảm giác sống động: “Tí tách giọt mưa thu/ Xối xả trận mưa rào/ Ầm ào mùa gió bão/ Cái nắng hè như chảo mỡ đang sôi/ Lần lượt giọt thời gian đi qua/ Năm này, năm khác” (trích trong “Giọt thời gian” của Hữu Ước). Nhà thơ Huy Trụ lại có bức ảnh đẹp đến ngỡ ngàng về cách tạo hình và sự ấn tượng của đôi mắt biết nói. Chữ viết của ông đẹp như những cánh lá vàng ươm mùa thu chao phất phơ trong gió, cũng như những câu thơ đầy chất tự sự của ông còn đọng mãi trong lòng người yêu thơ: “Sau bao chìm lấp, nổi nênh/ Sóng xô bạc mặt, thác vênh lòng thuyền/ Chỉ còn trong vạt áo em/ Để tôi tìm lại một miền riêng tôi” (Trích trong “Miền riêng tôi” của Huy Trụ). Và còn nhiều nữa những gương mặt, những bút tích để lại cho ta nhiều cảm nhận đẹp và khác lạ như Trần Lê Văn, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Thị Minh Ngọc,Việt Phương, Lê Thị Kim, Kiên Giang, Dũng Hà… mà bạn đọc có thể đọc, xem và có những cảm nhận cho riêng mình.
211 chân dung và bút tích các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Việt Nam trong tập 2 (tiếp nối 250 chân dung trong tập 1) đã phác họa được chân dung những người đem ngòi bút làm đẹp cho đời. Cái hay, cái quý của của cuốn sách này là bên cạnh các nhà văn có tên tuổi còn tôn vinh một số gương mặt tuy chưa phải là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng họ sống và viết chân thành và hết lòng vì sự nghiệp chung. Tác giả cố gắng hội đủ các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình và dịch giả. Đó là những gương mặt lớp trước, lớp sau kế tiếp nhau xây dựng mái nhà văn nghệ chung ở nước ta. Bút tích của từng người đã giúp bạn đọc hình dung về các nhà văn gần gũi, ấm áp và thật xúc động. Với 427 trang dày dặn, khổ 20.5×29 cm nằm gọn trong bìa sách cứng cáp in bốn màu đẹp mắt, cuốn sách đã thể hiện tấm lòng tri ân với các nhà văn Việt Nam và sự tôn trọng với những người sở hữu bộ sưu tập. Những trang giấy trắng, nền hoa văn nền nã, cách trình bày ngăn nắp, cách phối màu nhịp nhàng cộng với những bức ảnh sống động, gợi nhắc càng tôn lên giá trị của cuốn sách không chỉ về nội dung mà cả hình thức mang tính nghệ thuật cao. Sách do Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành, có sự góp mặt của Công ty cổ phần Sách dịch và Từ điển Giáo dục cùng nhiều nhà văn, gia đình các nhà văn, thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp vì yêu mến công việc của tác giả đã gửi tới những tư liệu quý cho cuốn sách.
Hai tập sách trên đã thực sự đem lại cho bạn đọc nhiều bất ngờ và tin tưởng. Nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu hiểu biết về các nhà văn Việt Nam của độc giả, mà còn đem lại cho chúng ta sự cảm nhận gần gũi, chân thật về những chân dung chúng ta yêu mến. Công trình 30 năm của hai tác giả Trần Phương và Phan Thu Hương đã tạo nên một sản phẩm không giống với các tác phẩm viết về các tác gia văn học thường thấy, vì nó không chỉ là tư liệu mà nó còn là sự sống động của những cuộc đời. Như trong lời Nhà xuất bản đã viết “Làm sách phải tìm được sự khác biệt. Chỉ có sự khác biệt mới tạo nên giá trị cuốn sách”, Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam đã làm được điều đó và xứng đáng là một trong những cuốn sách lưu dấu cuộc đời.
Lục lại ổ cứng cũ thấy có bài viết này, không nhớ là đã từng viết nó nữa cơ. Viết bao giờ, viết để làm gì? Thôi cứ lưu lại ở đây như một kỷ niệm đã.
Đầu tháng 5, Đại hội Chi đoàn ở cơ quan mới. Mình cũng lại được ngồi ở bàn Chủ tọa. Cảm giác cũ lại ùa về, những ngày hoạt động Đoàn ở Thư viện Quốc gia như mới vừa hôm qua, còn ở đó tươi nguyên.
Không phải là những gương mặt ngày xưa nữa, là những gương mặt cũng quen, nhưng chưa quá thân, chưa quá hiểu. Những thao tác trong Đại hội cũng tương đối giống nhau, nhưng không khí đương nhiên là mỗi nơi mỗi khác. Quả thật là nhớ ngày xưa. Dù ngày xưa đó, trong hoạt động thanh niên của mình và các bạn cũng có biết bao bỡ ngỡ, sai sót, có lúc cãi vã tranh luận nho nhỏ, cũng đôi khi đùn đẩy nhau, có lúc bị lãnh đạo mắng vì làm chưa đúng…
Mình quên không làm cái tổng kết là từ ngày rời Thư viện mình đã mơ bao nhiêu giấc mơ về nơi ấy. Nhưng phải nói là quá nhiều. Vì mình vốn là người hay mơ. Cũng vì cái nơi đã gắn bó 7 năm ấy, làm sao một sớm một chiều mà quên đi được. Mơ bao nhiêu gương mặt cũ, mơ nhiều nhất là phòng Tạp chí Thư viện nằm khiêm tốn ở tầng 2 khu nhà H. Cứ mơ mãi là mình đã quay trở lại làm việc, và lại làm những công việc quen thuộc ngày nào. Mơ thấy chị Lan, chị Vân, anh Mạnh đi lại cười nói, thậm chí chê trách mình vì làm việc lơ là… Tỉnh dậy, nhiều khi cứ ngẩn ngơ.
Vẫn đều đặn vào trang web “nlv.gov.vn” để xem tin tức thư viện và hoạt động của Thư viện Quốc gia. Ngắm lại những gương mặt đã từng thân quen, càng ngày càng tươi tắn hơn, càng lúc càng năng động. Ngắm cả những gương mặt lạ, mà khi mình đi rồi các bạn mới chuyển đến. Ngắm khuôn viên thư viện, ngắm không gian làm việc các phòng. Chưa kể nhiều lúc có việc (hoặc ngẫu hứng) đi ngang qua, chẳng dám dừng lại, chỉ đi chầm chậm nhìn vào phòng Thẻ, bãi gửi xe độc giả, nhà để xe cán bộ, nhà H thấp thoáng phía trong kia. Và nhất là cái bảng tin, nơi dán Bản tin Thanh niên, nơi ngày xưa mình và mọi người quây quần ở đấy dán từng tờ bản tin lên rồi cười đùa rôm rả. Những ngày còn làm việc đoàn, cùng lao động Quỹ châu Á, CONSAN, thi Miss Thư viện,… cùng chị Kiều Giang, anh Ban, em Mai Linh, anh Hùng, Thu Phương, Thu Trang, chị Thúy Hằng, Minh Tuyết, em Hoạt… và bao nhiêu người khác nữa vẫn còn đọng lại rõ thế!
Thỉnh thoảng vẫn liên lạc với một số anh chị, bạn bè ở Thư viện. Mọi người cứ trách sao chẳng thấy qua Thư viện chơi. Thú thật là mình ngại. Không phải ngại đi, lười đến. Mà cảm giác ngại ngần của một người cũ. Chỉ sợ khi quay trở lại sẽ thấy thừa thãi, lạc lõng. Vì thế, cảm giác cứ xa dần. Là do mình cả. Mình rời đi, mình phải là người chủ động trở về thăm. Còn cảm giác, có lẽ chỉ là ngụy biện.
Vui vui vì một số bạn bè hoạt động Đoàn ở các đơn vị khác thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vẫn thường xuyên hỏi han. Nhờ đó, cảm thấy mình không quá già, quá xa cách Đoàn và quá bị quên lãng. Nhờ đó, thấy tự tin và ấm áp hơn mỗi khi nghĩ mình đã từng là một thành viên của ngôi nhà Thư viện Quốc gia. Nhờ những hỏi han của bạn bè trong và ngoài Thư viện, cũng biết hoạt động Đoàn dưới sự điều hành của Bí thư Tuyết giờ còn tốt hơn xưa, năng động và thiết thực hơn xưa.
Lúc vừa sang cơ quan mới (2010), mình cũng được bầu ngay vào Ban chấp hành Đoàn của đơn vị nhỏ trong một đơn vị lớn. Nhưng không thể giữ lại được sự hào hứng, trẻ trung như xưa, dù rất cố. Thường là thế, điều đẹp đẽ, hồn nhiên, hào hứng, say mê nhất đã nằm lại cùng những năm tháng thuở ban đầu. Thỉnh thoảng nghe chị Nhung, em Hoạt, chị Oanh, anh Ninh… kể về Thư viện và những hoạt động Đoàn, có đôi chút bâng khuâng, nhớ nhớ.
Thứ 5 vừa rồi xem lịch cơ quan mới, thấy một lịch ghi: “Thứ 5 làm việc với Thư viện Quốc gia”. Cảm giác như mình vẫn ở Thư viện. Cứ như có sự kết nối nào đó, dù mình chẳng liên quan gì đến kế hoạch này. Thế mới biết, những gì đã từng gắn bó, đặc biệt gắn bó với mình vào thời tuổi trẻ, sẽ không bao giờ quên được, dù cuộc sống sau này có cuốn mình đi với những bận rộn công việc khác và những lo toan đời sống mỗi lúc lại ngập đầy.
Có một thời tôi đã coi quả cầu lục thủy là chân ái, và nó luôn là lựa chọn số một của tôi khi tặng một ai đó nhân dịp gì đó. Quả cầu có một lỗ có thể buộc dây xuyên qua để treo lên. Và tôi cũng từng mua chừng mười mấy quả để treo thành hàng như bức rèm nơi lan can gác lửng. Khi ánh sáng rọi vào, quả cầu sẽ phát ra muôn sắc màu rất lung linh, dễ thương. Giờ thì tôi chẳng còn giữ được cho mình một quả cầu nào nữa. Chỉ còn có thể ngắm chúng qua ảnh và hình dung trong trí nhớ mà thôi.
Lâu nay tôi không có nhiều thời gian vào đọc bài viết của các bạn trong blog này. Tôi mải làm những việc trong kế hoạch, bị cuốn theo những bận rộn tiếp nối mãi không dứt. Và quá lâu rồi tôi cũng không viết được entry nào mang đúng nghĩa ở đây.
Hôm nay ăn trưa xong, tôi cầm máy đọc một lượt bài viết của mọi người dù mắt tôi mấy bữa giờ không thực sự tốt lắm (cần kiêng dùng máy tính, điện thoại). Và cảm giác đọng lại khi tôi đọc xong chừng ấy bài viết là sự xúc động, sự đồng điệu cùng với lòng biết ơn.
Xúc động vì sự chân thành, chân thật trong từng bài viết. Đồng điệu vì tôi thấy mình thấp thoáng trong những bài viết đó. Và biết ơn vì các bạn blog đã đem tới cho tôi những kiến thức bổ ích, những bài học ý nghĩa, những cảm xúc vi tế và những lời cảnh tỉnh trước khi quá muộn… Ở đây bao giờ cũng là sự yên bình, chẳng có ai viết những lời cay nghiệt, thô lỗ hay trách giận, đổ lỗi. Tất cả đều văn minh và tử tế. Tôi thật sự rất yêu nơi này và trân trọng những người bạn trong blog của tôi!
Trong các loại vải may trang phục, lụa tơ tằm luôn được xếp hàng đầu bởi nó có nguồn gốc tự nhiên, được dệt bằng những sợi tơ do chính con tằm nhả ra.
Tương truyền, từ thời Vua Hùng, dân ta đã biết trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Qua đôi bàn tay khéo léo của những người thợ Việt, biết bao dải lụa mềm mượt óng ả đã ra đời và tỏa đi muôn nẻo. Xưa, lụa tơ tằm chủ yếu chỉ dành cho vua chúa hoặc những gia đình khá giả bởi giá thành cao. Nay, lụa được sử dụng phổ biến hơn, song chúng không bị nhòa lẫn bởi đặc thù chất liệu là sợi tơ tự nhiên, hút ẩm tốt, mỏng nhẹ, đem đến cho người mặc thần thái thanh tao và sang trọng. Để làm nên một tấm lụa hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua biết bao công đoạn, từ trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, lấy tơ, nhập tơ, guồng tơ, đánh ống, mắc cửi, nối cửi, dệt rồi nhuộm… Và phía sau từng công đoạn ấy là bao công sức, tâm huyết của người làm nghề mà không phải ai cũng cảm nhận được.
Để nuôi được những con tằm nhả ra tơ bền đẹp, người thợ phải cho tằm ăn lá dâu vì đây là loại thức ăn tằm hấp thụ tốt nhất. Cây dâu đạt tiêu chuẩn phải được trồng ở vùng phù sa màu mỡ, đất có độ mặn thấp. Lá dâu khi cho tằm ăn tuy không rửa nhưng phải đảm bảo sạch, không có mùi thuốc trừ sâu. Trong vòng đời kéo dài khoảng 25 – 30 ngày, tằm có 5 giai đoạn phát triển và tùy theo độ tuổi của tằm, người thợ sẽ cho tằm ăn lá theo cách phù hợp. Khi tằm còn bé thì cho ăn lá non và thái nhỏ, lúc tằm lớn thì để nguyên lá và cho tằm ăn được cả lá già. Việc nuôi tằm quyết định trực tiếp đến chất lượng sợi tơ, vì vậy người thợ phải đặc biệt chú trọng để đảm bảo tằm lớn khỏe và đầy đủ dinh dưỡng. Tằm hợp với khí hậu mát mẻ nên thường được nuôi vào mùa thu và mùa xuân. Mỗi con tằm có quy trình lột xác bốn lần. Sau khi lột xác, tằm ăn rất khỏe để chuẩn bị cho giai đoạn tạo kén, người thợ phải tiếp dâu liên tục để đáp ứng đủ nhu cầu “ăn rỗi” của tằm. Dân gian có câu “Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” vì người thợ luôn phải túc trực quanh nong tằm để đảm bảo tằm được chăm sóc tốt nhất. Sau khoảng sáu ngày ăn liên tục, tằm phát triển đến kích thước tối đa thì ngừng ăn, lúc thân tròn bóng và dần trở nên trong suốt là lúc tằm tìm nơi làm tổ. Người thợ phải nhanh tay đưa tằm lên né để tằm đóng kén.
Né là tấm phên đan bằng thân cây đay hoặc các thanh tre, thanh gỗ tạo thành các lỗ hổng hình vuông hoặc hình chữ nhật. Người thợ sẽ nhặt tằm chín từ nong sang né và tằm bắt đầu giai đoạn nhả tơ kéo dài từ 3 – 8 ngày. Trong tuyến nước bọt của tằm có Protein nên khi tằm nhà tơ ra không khí chúng sẽ khô và tạo thành các sợi tơ dai bền. Tằm nhả tơ từ ngoài vào trong, phần tơ được nhả ban đầu bao bên ngoài lá áo kén, sau đó tằm sẽ chạy quanh bên trong chiếc áo kén và nhả tơ cho đến khi đầy kén. Giai đoạn này, né được đưa ra ngoài ánh nắng nhẹ, giúp cho kén được khô và có màu vàng óng. Sau khi gỡ kén khỏi né, người thợ sẽ dàn đều kén trên nong để loại bỏ những kén không đạt chất lượng. Kén tằm phải mẩy, nhiều tơ, ít áo kén, dễ kéo tơ và đồng đều nhau. Tiếp đến là quy trình ươm tơ để kéo sợi tơ từ kén tằm thành sợi tơ tằm. Người thợ cho kén tằm vào đảo trong nồi nước sôi để làm cho lớp keo tơ Secirine tan ra giúp kén mềm, dễ rút sợi. Kén tằm được người thợ khỏa nước liên tục và cuốn vào guồng kéo sợi quay thành từng bó tơ dài rồi phơi lên sào cho khô. Sau khi phơi xong, tơ sẽ được cuốn vào những ống suốt để chuẩn bị cho quy trình dệt. Tùy theo chất lượng tơ, cách xử lý sợi tơ và cách xoắn sợi tơ, ta sẽ có những loại tơ khác nhau như sợi mốt, sợi mành, sợi đũi, sợi đơn, sợi khổ, sợi xoắn… rồi tùy theo cách dệt lại cho ra những loại vải khác nhau.
Theo phương pháp truyền thống, vải lụa được dệt bằng khung cửi. Người thợ dệt phải có tay nghề khéo léo, tỉ mỉ kiên nhẫn thì mới dệt được tấm vải ưng ý. Kiểu dệt cổ truyền là phối hợp các loại sợi dọc và ngang bằng cách tay đưa, chân dậm cùng lúc sao cho sợi dọc và sợi ngang khít với nhau với độ dày vừa phải. Các sản phẩm dệt ra từ tơ tằm rất đa dạng như gấm, vân, lĩnh, đoạn, vóc, the, sa, xuyến, băng, cấp, lượt, lương, lụa, là, nhiễu, kỳ cầu, đũi, sồi, nái… nhưng lụa vẫn là sản phẩm chính, được ưa dùng nhất. Những vuông lụa dệt xong chỉ có màu trắng ngà hay vàng mỡ gà, muốn nhuộm màu thì phải qua khâu truội tơ để gột sạch lớp keo tằm cho vải bám màu. Đầu tiên phải ngâm lụa mộc trong nước của lá trà, trầu không, bạch đàn… để vải giảm nhăn và được kháng khuẩn. Sau đó, người thợ sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như hột rành rành, lá bàng, than, gạch, mặc nưa… để nhuộm các màu theo ý muốn. Ví dụ muốn nhuộm màu nâu thì dùng củ nâu, màu thâm thì ngâm nước bùn, nâu đỏ thì dùng sâu cánh kiến, tím đỏ thì dùng củ dền… Ngày nay, nhiều nơi đã sử dụng máy dệt để cho ra sản lượng lớn và nhuộm vải bằng hóa chất để vải có màu sắc nét và khó phai hơn. Tuy nhiên nhiều người vẫn trân quý cách làm truyền thống nên vẫn tìm đến những nơi dệt cửi, nhuộm nguyên liệu tự nhiên để có được những tấm lụa màu sắc mộc mạc gần gũi.
Để có được những sản phẩm như trên, không thể không nhắc đến các làng nghề truyền thống có tiếng như Vạn Phúc, Phùng Xá (Hà Nội), Nha Xá (Hà Nam), Cổ Chất (Nam Định), Duy Duyên, Mã Châu (Quảng Nam), Tân Châu (An Giang), Bảo Lộc (Lâm Đồng)… Bạn muốn ghé thăm các làng lụa hãy đến Cổ Chất xem người dân ươm tơ, đến Nha Xá tận hưởng vẻ đẹp của ngôi làng có truyền thống dệt lụa 600 năm, đến Phùng Xá nằm bên bờ sông Đáy rộn tiếng thoi đưa và xem người dân dệt lụa từ tơ sen độc đáo. Và điểm dừng chân đáng nhớ sẽ là làng lụa Vạn Phúc nằm bên con sông Nhuệ, được xem như cái nôi của nghề sản xuất tơ lụa xứ Bắc với áo lụa Hà Đông đã trở thành biểu tượng tao nhã của người Thăng Long Kẻ chợ. Về miền Trung, bạn hãy tìm làng lụa Mã Châu để được sở hữu những dải lụa được dệt từ những sợi tơ từ con tằm ăn lá cây dâu trồng nơi phù sa của ba con sông Thu Bồn, Vu Gia và Bà Rén. Cuối cùng, không thể quên thủ phủ tơ tằm Bảo Lộc, nơi chiếm 70% giá trị sản lượng tơ tằm cả nước với quy trình sản xuất hiệu quả nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp.
Qua bao năm tháng, trải bao nắng mưa, những sợi tơ tằm vẫn miệt mài dệt nên giấc mơ đẹp đẽ đậm đà bản sắc Việt.
Hôm nay tự dưng ngẫu hứng gom lại mấy bài mình từng viết về nỗi buồn, lưu vào một post. Chưa gom hết đâu nhưng cứ để đây trước để biết mình từng nghĩ và viết về nỗi buồn như thế nào.
Thời gian chưa bao giờ là bạn tốt của con người. Thời gian biến tóc ta thành hoa lau, nhuộm hồn ta thành lá đỏ. Và đến một ngày nó sẽ biến đời ta thành mây trắng lang thang.
(Cảm ơn người lớn – Nguyễn Nhật Ánh) — Tôi tôn trọng mọi quan điểm và tôi cũng bày tỏ quan điểm của mình như sau: Tôi nghĩ thời gian là bạn tốt của con người đó chứ. Thời gian giúp ta trưởng thành, nhận ra. Thời gian giúp xoa dịu, xóa mờ dần những vết thương. Thời gian không làm hại ta bao giờ, chỉ có ta là tự đối xử với mình tốt hay xấu. Việc của thời gian là vận hành theo quy luật, nó công bằng và khách quan. Việc của ta nên làm là sống thuận tự nhiên. Đơn giản có vậy và ta không nên đổ lỗi cho thời gian về bất cứ điều gì!
Ngày xưa tôi từng ước mơ làm một bảo tàng cá nhân, trong đó sẽ trưng bày những kỷ vật của tôi cùng gia đình, bạn bè. Nhưng rồi sau đó tôi thực hành lối sống tối giản bằng cách số hóa hết mọi thứ trước khi cho chúng vào đám lửa cháy bùng hết sạch. Giờ đây tôi không còn nhiều kỷ vật để mà làm bảo tàng thực thể ấy nữa. Thay vào đó tôi làm bảo tàng online. Tuy không sống động chân thực bằng, nhưng nó làm cuộc sống tôi gọn gàng hơn. Và bảo tàng ấy sẽ đến được với nhiều người, ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Sáng nay dậy lại thấy hoa nở tưng bừng, cảm nhận rõ bước đi của thời gian thật sống động qua nhịp nở của hoa. Mình không tước đi các đốm nhụy kia dù mọi người hay nói bỏ đầu nhụy thì hoa sẽ được bền hơn. Mình nghĩ làm như vậy sẽ vô tình gây tổn thương cho hoa. Hoa vốn sinh ra đã thế, các bộ phận có sự hòa quện, bổ trợ cho nhau. Chúng cần được hồn nhiên và trọn vẹn sống cùng nhau cho đến giây phút cuối cùng, dù có thể là ngắn ngủi.
Triều Khúc là một ngôi làng cổ ven đô Hà Nội (thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì) nổi tiếng với cụm di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia gồm đình, chùa, đền, lăng, miếu. Nơi đây còn là làng nghề truyền thống chuyên làm nón quai thao, các sản phẩm từ lông gà và may thêu đồ thờ tự. Nhưng độc đáo và đặc sắc hơn cả chính là hội làng Triều Khúc đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2019. Cứ vào ngày mùng 9 đến 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, người dân lại tổ chức lễ hội tưởng nhớ vua Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương lên ngôi (lễ Tức vị) và đón chào một năm mới với hy vọng gặp nhiều may mắn, an vui.
Lễ hội làng Triều Khúc bắt đầu bằng phần lễ với các lễ dâng hương, lễ rước sắc, lễ nhập tịch và cuối cùng là tế lễ. Theo đó, lễ rước long bào của Hoàng đế Phùng Hưng từ đình Sắc về đình Đại diễn ra rất trang nghiêm với đoàn rước là những thanh niên khỏe mạnh vừa rước kiệu vừa ngoảnh mặt vào nhau. Trong lễ rước kiệu, dân làng sẽ chuẩn bị các mâm lễ hoa quả và đèn nhang để dâng lên tỏ lòng thành kính với vua Phùng Hưng. Đoàn rước đi một vòng quanh ao chùa Triều Khúc rồi về đình Đại. Khi đám rước đến nơi, các bô lão sẽ đọc văn tế, mở hòm sắt lấy bút và chính thức bắt đầu cuộc tế lễ. Đồng thời khi ấy bên ngoài cũng bắt đầu phần hội với các điệu múa rộn ràng trong không gian tràn ngập sắc màu của váy áo và cờ phướn. Nào là chạy cờ, múa rồng, múa lân, múa sênh và được mong chờ nhất chính là múa bồng.
Múa bồng có tên dân gian là “Con đĩ đánh bồng”, là điểm nhấn của lễ hội và là niềm tự hào của bà con dân làng Triều Khúc. Tương truyền, vào thế kỷ thứ 8, lúc Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đánh đuổi giặc Đường, ông lại tổ chức cho các binh sĩ giả gái, đeo trống để múa hát nhằm khích lệ tinh thần trước khi vào trận chiến hay khi ăn mừng thắng lợi. Thấy các binh lính giả gái múa bồng rất dẻo giữa tiếng reo hò mừng vui vang rội của nghĩa quân và dân làng, vua Phùng Hưng gọi vui là “con đĩ” (từ “đĩ” khi ấy dùng để chỉ người con trai giả gái chứ không mang nghĩa tiêu cực nào). Nét đặc biệt của điệu múa này ở chỗ vũ công là những nam thanh niên chưa lập gia đình, có diện mạo ưa nhìn, xuất thân từ các gia đình gia giáo trong làng. Các chàng trai được tô son thoa phấn, môi đỏ má hồng, mặc váy đụp hay quần nhiễu đen, vai khoác tấm lụa đào thêu họa tiết công phượng có viền tua rua rủ xuống, đầu chít khăn mỏ quạ. Trước bụng mỗi người là chiếc trống bồng nhỏ sơn màu đỏ và được cố định bằng dải lụa đỏ buộc khéo léo phía sau lưng.
Tuy chỉ đơn giản là các điệu múa xoay tròn, vươn tay, gập chân, dựa lưng, úp mặt vào ngực nhau, nhưng nhờ có dàn nhạc tung hứng, tiếng trống vỗ hào sảng, điệu múa lả lơi nhịp nhàng, ánh mắt biểu cảm lúng liếng… nên xung quanh đều thích thú và cổ vũ vô cùng hào hứng. Hình ảnh những bộ váy áo sặc sỡ tung bay theo từng cú nhảy thuần thục đập trống đã tạo nên ấn tượng thị giác rất ấn tượng. Khi các chàng trai xoay người, những dải lụa màu sắc rực rỡ xoay xoay theo, tạo thành những vòng tròn ảo diệu đẹp mắt. Từng cặp múa cùng nhau tạo nên các bước đi theo hình vòng tròn rồi xoay người ngược chiều kim đồng hồ với tiết tấu nhịp nhàng rồi dồn dập theo nhịp thanh la và trống đánh. Những bước chân nhún đều, lúc vươn tay khi gập gối rồi lại xoay vòng thật điêu luyện và dẻo dai. Mặc dù giả gái với các động tác múa mềm mại, khéo léo, nhưng ở họ vẫn toát lên phong thái khoáng đạt của đấng nam nhi và tinh thần thượng võ của người lính trận.
Theo dân làng Triều Khúc, những người có công lớn để duy trì điệu múa này là cố nghệ nhân Bùi Văn Tốt, nghệ nhân Bùi Văn Lục, nghệ nhân Triệu Đình Vạn và nghệ nhân Triệu Đình Hồng. Tâm huyết với điệu múa cổ, bao năm qua ông Triệu Đình Hồn thuyết phục nhiều thanh niên trong làng tham gia học múa và biểu diễn để bảo tồn điệu múa của ông cha. Năm 2010, ông được trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”, tới năm 2015 Câu lạc bộ Múa bồng do ông làm chủ nhiệm đã được Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội chính thức công nhận và bảo trợ. Và điệu múa ấy giờ đây không chỉ diễn ra trong phạm vi thôn xã mà đã hiện diện ở nhiều vùng miền, nhiều không gian lễ hội trên cả nước cũng như tham gia vào ngày hội văn hoá các dân tộc Việt Nam. Bởi dù qua bao năm tháng, người dân cũng như du khách thập phương vẫn luôn yêu thích, hào hứng đón chờ được xem điệu múa cổ đầy cuốn hút của đất Thăng Long Kẻ Chợ này.
Có thể nói, hội làng Triều Khúc và điệu múa “con đi đánh bồng” là phần hồn, là niềm tự hào và điểm tựa tinh thần thiêng liêng của người dân Triều Khúc. Để mỗi khi xuân về, ai cũng cảm thấy lòng phấn chấn hơn vì được hòa vào sự náo nức tưng bừng của lễ hội. Nhất là các cụ ông cụ bà, họ như trẻ lại khi được diện quần lụa, áo then áo gấm, hài thêu trong không gian thấm đẫm tinh thần Việt. Có lẽ trong đầu những người già đã đi qua bao năm tháng hội hè từ thuở thiếu thời đến khi lưng còng tóc bạc, lễ hội mà họ đang hòa mình vào ở thời điểm này còn là hiện thân của cả tuổi thơ, tuổi trẻ đã trôi qua trong quá khứ. Bởi vậy mà ý nghĩa sâu xa của lễ hội ấy không chỉ là ôn lại truyền thống của một ngôi làng hay tạo ra bầu không khí vui tươi đoàn kết, mà sâu xa hơn, nó làm tươi mới lại phần ký ức quý giá, lấp lánh, đẹp đẽ và rất riêng trong mỗi người.
Kiên trì chăm chỉ làm cho tới Cả thèm chóng chán chẳng đến đâu Việc gì theo đuổi bền lâu Sẽ cho thành quả về sau trọn đời.
Đầu xuân năm mới mình có chút vui khi nhận được 100.000 follow cho fanpage Winlinh, xin chia sẻ thành quả nho nhỏ này với bạn bè WordPress.
Trân trọng cảm ơn bạn đọc thương mến đã đồng hành cùng Winlinh trong chặng đường đã qua. Và mong sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ, chia sẻ của mọi người trên chặng đường sắp tới!
Chúc cả nhà một năm mới thuận hòa, an yên, hạnh phúc và có nhiều trải nghiệm đáng nhớ!
Giờ này ở Việt Nam đã là 2h sáng, nghĩa là đã sang mùng 2 tết rồi. Thời gian cứ vun vút, mới hôm nào ăn tết năm ngoái mà lại đã ăn tết năm nay. Đang viết mình quay ra nhìn lịch thì hóa ra hôm nay tròn một năm ngày mình lên máy bay, rời Hà Nội, tới một vùng đất mới. Dẫu chỉ xa Việt Nam vài năm, nhưng đây chính là sự xê dịch lớn đối với mình cũng như cả gia đình. Trong khoảng thời gian một năm qua mình đã học được rất nhiều điều, ngộ ra nhiều thứ và đang dần thay đổi theo hướng (mình tin là) tích cực.
Ngày 29 tết mình cùng mọi người gói bánh chưng. Ngày 30 lại loanh quanh với chị em nấu nướng để chuẩn bị cho giao thừa. Rồi thời khắc đón giao thừa cũng đến. Mọi người cùng nhau chắp tay mong cầu một năm bình an, thành công và hạnh phúc. Năm nay đón giao thừa nhẹ nhàng, không như năm ngoái thức xuyên đêm hát hò đến 5h sáng.
Ngày mùng 1 với mình quá đỗi bình yên và mình thích như vậy. Sáng dậy đem hai chậu hoa đồng tiền nhỏ ra cửa sổ đón ánh nắng dịu trong tiết trời hiu hiu lạnh. Rồi mình pha trà uống và dọn dẹp nhà cửa. Đáng ra phải dọn từ trước đó nhưng suốt mấy ngày cứ bận việc nên còn những chỗ chưa kịp gọn gàng. Dọn sơ sơ xong mình đi phơi phóng quần áo và lại dọn tiếp. Buổi chiều nằm mãi mới ngủ một tí vì trước khi ngủ còn mải làm… thơ. Tối đến còn dọn mải mê một hồi rồi đi tắm xong thì viết mấy dòng này.
Ra tết loanh quanh cũng tháng hai rồi nên thời gian chuẩn bị cho cuốn sách thứ 3 chỉ còn tầm hai tháng. Vội phết đấy! Không tích cực lên là chậm deadline ý chứ.
Mong năm mới sức khỏe của mình sẽ tốt hơn năm qua và hoàn thành được những kế hoạch đề ra. Cũng phải thu xếp ngủ cho đủ giấc chứ như năm vừa qua bê trễ quá khiến mặt mũi hao gầy và tóc bạc nhiều.
Hơn hết mong mọi điều tốt đẹp đến với những người thân yêu. Cũng mong cho nhà nhà người người khắp nơi gặp nhiều may mắn và an vui, cùng nhau trải nghiệm một cuộc sống muôn phần thú vị.
Bước qua tuổi trung niên được hai năm rồi, thấy có nhiều thay đổi. Hai năm trở về trước mình luôn tự hào về việc ăn no ngủ kỹ. Còn giờ đây ngủ được ít quá, đêm nằm trằn trọc mãi mới ngủ được, nên mình hay trong tình trạng thiếu ngủ vêu vao. May sao ăn vẫn thấy ngon. Tóc thì bắt đầu nhiều sợi bạc rồi. Từng bước từng bước đi qua những trải nghiệm tuổi tác tháng năm cũng thấy thú vị, dẫu có những thứ khó duy trì như xưa là vóc dáng và sức bền.
Trời đang vào tết nhưng ở xa nhà nên không cảm nhận được nhiều. Chủ yếu những lúc này là hồi tưởng lại những dư vị tết xưa. Nhưng nghĩ kỹ thì tết với mình cũng hiếm khi có cảm giác vui nhiều. Mình chỉ cần tết được thong thả bình yên chứ ngày càng ngại tụ họp quá đông hay ăn uống quá ê hề. Có lẽ vì thích những cái tết thong thả bình dị nên mình hay viết những câu thơ tết kiểu uống trà xem hoa nở và ngồi tự tại lắng đọng thư thái trong không gian tĩnh lặng.
Bắt đầu khởi động công việc trong năm mới bằng một cuốn số ghi chép mới. Tiếp tục chăm học chăm làm và chăm tu dưỡng bản thân. Chỉnh sửa mình không dễ nhưng phải luôn làm, vì bản thân còn nhiều khiếm khuyết lắm! Có những bài học đến mỗi ngày mình rất muốn viết ra nhưng bận bịu linh tinh khiến mình bỏ bẵng chúng. Cố gắng năm nay viết nhiều hơn những điều li ti nhé, vì đó mới trọn vẹn là mình.