Trang sách mùa xuân

Từ bàn tay con thoảng mùi giấy mới

Mẹ thấy mình trở lại những ngày xưa

Này mực tím này sách vở thơm tho

Này chân đất đầu trần chạy dưới nắng

 

Thả cánh diều giữa mênh mang mây trắng

Hương lúa bay xôn xao ngát trời chiều

Đọc vần thơ, trang sách nhỏ thân yêu

Cho gió hiền về mơn man khe khẽ

 

Nay con đã biết rời đôi tay mẹ

Tìm say mê trong thế giới thần tiên

Cổ tích dịu êm, cô tấm rất hiền

Đều từ sách, nơi ươm mầm mơ ước

 

Xuân đang nhú những trồi non êm mướt

Dưới bóng đào thong thả viết dòng thơ

Gửi tặng con những cuốn sách bây giờ

Cho tương lai xanh ngời đường con bước.

25.12.2011

Published in: on 28/11/2017 at 3:11 Chiều  Gửi bình luận  

Những người bạn tốt của tôi

Cái thời “lười như chấy” của tôi đã qua lâu rồi. Bây giờ, mỗi lần nhớ lại, tôi tự cười mình vì có một thời từng “dị ứng sách”. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, khi ấy, tôi mới học lớp 6. Lớp 6, thú vui của tôi là rong chơi cùng lũ trẻ hàng xóm sau mỗi giờ tan học, vào mỗi ngày nghỉ và nhất là những ngày hè nắng nóng. Chả sợ nóng, không sợ nắng, bọn trẻ chúng tôi luôn hào hứng mỗi khi ra đường. Tóc khét râu ngô, chân tay đen nhẻm, quần đùi xoắn cạp cùng những trò nghịch ngợm tung trời. Còn sách, một thứ già nua, cũ kỹ, làm sao có thể cuốn hút được những đứa trẻ hiếu động như tôi. Nhưng, có ngờ đâu, chỉ sau nửa năm mọi thứ đã khác, đến mức nhìn lại, tôi cũng chẳng nhận ra nổi mình.

Người mang đến cho tôi sự hào hứng với sách, chính là mẹ. Mẹ tôi mê sách lắm! Nhà có hai tủ sách rất to, bằng gỗ, màu nâu vàng bóng mịn. Hai tủ sách của mẹ được xây nên bằng những đồng tiền ky cóp từ những ngày sinh viên cho đến lúc đã sinh được hai anh em chúng tôi. Dù thời buổi thóc cao gạo kém, dù đi chợ vẫn phải đau đầu chọn mua món gì cho vừa rẻ vừa ngon, nhưng mẹ chưa bao giờ từ bỏ thói quen mua sách. Nhiều lần tôi hỏi mẹ “sách chẳng có gì hay, cũng không đem ra mà ăn được, mẹ tốn tiền mua sách làm gì?”. Mẹ cười bảo “rồi một ngày con sẽ thấy, chính sách là người nuôi dưỡng tâm hồn con”.

***

Nhà tôi nằm trong một con ngõ trên đường Giảng Võ, gần với hiệu sách Nhà xuất bản Giáo dục. Những ngày cấp hai, tôi chỉ mong chóng tan học để tham gia vào những trò chơi cùng bọn trẻ hàng xóm. Vì ngõ nhỏ nên chúng tôi thường kéo ra đường lớn chơi cho thỏa thích. Ðịa điểm lý tưởng là khoảng sân rộng trước cửa Nhà xuất bản. Hồi đó, xe đạp còn nhiều, những dãy xe xếp hàng dài trước cửa hiệu sách, những cô bán hàng miệng cười tươi tắn là hình ảnh quen thuộc trong ký ức ấu thơ. Nhưng sách thì không, không một tên sách nào lưu lại trong đầu tôi khi ấy.

Mỗi lần mẹ vào hiệu sách, tôi thường giằng tay mẹ bỏ ra ngoài chơi, với tôi bên ngoài thú vị hơn nhiều. Vậy mà có một lần, mẹ đã thuyết phục tôi vào được từ đầu buổi đến cuối buổi. Hôm đó tôi ngoan bất chợt, lút cút đi theo mẹ xem từng quyển sách. Nghe mẹ giảng giải về những ích lợi của sách, tôi thấy sách không đến nỗi khô khan như mình tưởng. Nhiều bìa sách trang trí đẹp, có những cuốn màu sắc rất bắt mắt. Có những tựa sách khiến tôi tò mò, rồi giở ra đọc vài dòng, lại thấy muốn đọc tiếp. Mẹ nắm bắt được một chút thay đổi nho nhỏ đó trong tôi, mua  ngay cho tôi muốn sách có cái tên thú vị: “Tác Dăng – đứa con của rừng xanh”. Về nhà, mẹ âm thầm theo dõi tôi xem có đọc quyển truyện đó không. Còn tôi thì vô tâm vứt sách vào một góc, lại cuốn vào những trò chơi mới cùng lũ trẻ con ham vui.

Cho đến một hôm, bố mẹ đi công tác, tôi ở nhà một mình. Đêm đầu tiên, không sao ngủ được, tôi đứng dậy, đi đi lại lại, rồi lục lọi các thứ ra chơi cho đỡ buồn chân buồn tay. Bỗng thấy quyển sách mẹ mua hôm nào nằm đó, tôi hờ hững chạm vào, lật giở qua loa. Rồi chẳng hiểu thế nào lại cầm lên đọc, đọc từ trang giữa. Đọc được một trang, tôi lật lại đọc từ đầu. Tôi bắt đầu đọc ngấu nghiến cuốn sách, cho đến gần hết đêm, rồi lăn ra ngủ say như chết. Trong giấc mơ, tôi mơ thấy mình là chàng Tác Dăng hoang dã đu cây rừng rất giỏi. Sáng sớm, khi mặt trời đã len từng sợi nắng vàng vào giường, cây phượng vĩ thả những chiếc lá li ti xuống bậu cửa sổ, tôi trở dậy, thấy cuốn sách nằm bên, quăn gập một góc bìa. Tôi cầm lên và đọc cho đến hết, quên cả cơn đói.

***

Sau cuốn sách đầu đời ấy, tôi bắt đầu theo mẹ đi hiệu sách nhiều hơn. Mỗi lần vào hiệu sách, thể nào tôi cũng chọn được cho mình một quyển mang về. Nào là “Giấc mơ tuổi thần tiên”, nào là “Khi chúng tớ là trẻ con”… Gần đây, “Bộ sách cho các bạn trẻ thế kỉ XXI” với 11 cuốn sách có các tựa đề là lạ: “Cái chết – giải thích cho con”, “Đạo lý – giải thích cho mọi người”, “Tình yêu – giải thích cho con”… đã giúp tôi nhận ra nhiều điều, cả những điều mà bố mẹ khó có thể giải thích cho tôi một cách cặn kẽ và dễ hiểu. Giờ trên lớp, sách giáo khoa lại là bạn thân của tôi. Nhất là vào thời điểm ôn thi, lúc nào tôi cũng ôm lấy sách. Mẹ dạy cho tôi cách học hiệu quả cùng sách giáo khoa, đó là gạch chân, viết những ý quan trọng vào sách. Dù không giữ được sự sạch sẽ hoàn hảo, nhưng kết quả mang lại rất khả quan. Đến lúc làm bài, trong đầu tôi hiện ra mồn một những chỗ đánh dấu, những đoạn gạch chân, những gợi ý về ý nghĩa đoạn thơ, đoạn văn mà tôi được học trên lớp. Bên cạnh đó, những cuốn sách “Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 12 nâng cao”, “Giảng văn Văn học Việt Nam”… giúp môn văn của tôi ngày càng tiến bộ. Cô giáo cũng ngạc nhiên về kết quả học tập của tôi. Chính tôi cũng cảm thấy lâng lâng về sự thay đổi ấy.

Giá sách nhỏ của tôi cứ đầy dần. Những cuốn sách của Nhà xuất bản Giáo dục mà tôi vẫn thường theo mẹ vào thăm nom hàng tháng đã thực sự trở thành người thầy, người bạn thân thuộc đối với tôi. Bây giờ đã qua cái tuổi đọc truyện cổ tích, truyện thiếu nhi, nhưng tôi vẫn giữ gìn những cuốn sách đã được mẹ mua cho ở Nhà xuất bản Giáo dục từ những ngày chập chững bước vào thế giới sách. Thỉnh thoảng ngắm lại, chạm vào, cả vùng ấu thơ lại trỗi dậy, tươi mới như chưa bao giờ trôi xa.

***

Đường Giảng Võ vẫn thế, những hàng cây xà cừ hôm nay đã bung đầy lá non, như những chú gà trống choai mới nhổ giò, tràn đầy sức sống. Những chiếc lá xanh như những sợi lông mướt bay phần phật trong gió. Tôi cũng như chú gà trống choai, đã chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ, bước vào cuộc sống làm một công dân đích thực, như mong ước của mẹ. Mẹ đã âm thầm vun vén cho tôi một tình yêu thực sự với sách, để tôi ngấm dần, thấm dần và tiếp nối niềm say mê đó một cách tự nhiên. Tôi mỉm cười vì sự liên tưởng ngộ nghĩnh của mình, chợt nhận ra, nhờ có sách mà trí tượng tượng của tôi được phát huy, nhờ có sách tôi mới có thể viết ra được những điều tôi nghĩ một cách lưu loát. Dù còn xa, nhưng trong đầu tôi đã hiện lên hình ảnh, vào một ngày trời đẹp, tôi dắt tay một cậu bé vào hiệu sách thân thuộc nằm cạnh ngõ nhà tôi, lại bắt đầu cho một sự tiếp nối.

__________________

Bài in trong kỷ yếu 55 nhà xuất bản Giáo dục. Viết xong 18.6.2012

Published in: on 28/11/2017 at 2:52 Chiều  Gửi bình luận  

“Nguyễn Đình Chú tuyển tập” – Sách nên có trên giá sách nhà bạn

Một cuốn sách có thể khiến bạn đọc để mắt tới không chỉ bởi màu sắc cuốn hút, độ dày đáng nể, mà hơn cả chính là tựa đề của nó. Tự thân cái tên “Nguyễn Đình Chú tuyển tập” dù nghe chân phương nhưng đã đủ giữ mắt bạn ở lại, bởi đơn giản, tuyển tập này là của Giáo sư Nguyễn Đình Chú – Nhà giáo Nhân dân, người đã ươm những hạt giống tâm hồn cho bao thế hệ.

Giáo sư Nguyễn Ðình Chú sinh năm Kỷ Tỵ (1929) tại xã Thượng Xá, nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong một gia đình Nho giáo có truyền thống yêu nước thân dân. Ông từng là sinh viên xuất sắc của khoa Văn trường Ðại học Sư phạm Hà Nội, sau đó được Nhà trường giữ lại làm công tác giảng dạy và kinh qua nhiều chức vụ quan trọng, góp phần vào sự phát triển chung của ngành giáo dục. Không kể việc đào tạo hệ cử nhân, ông đã hướng dẫn trên 50 luận văn và 14 luận án tiến sĩ; có nhiều bài viết và công trình khoa học giá trị cao; cũng là chủ biên của sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 6 (phần Văn học), Văn 10, Văn 11 (thí điểm, cải cách, chỉnh lý hợp nhất). Nhận thấy vai trò to lớn của Giáo sư Nguyễn Ðình Chú trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục đã xuất bản “Nguyễn Ðình Chú tuyển tập” với mong muốn lưu lại cho đời một nhân cách, một tấm gương về trí tuệ, tâm huyết và lòng yêu nghề vô hạn.

“Nguyễn Ðình Chú tuyển tập” nằm trong số các bộ sách tham khảo lớn, có giá trị khoa học và thực tiễn cao, mang ý nghĩa chính trị – văn hóa, giáo dục sâu sắc, được trình bày và in ấn đẹp (gọi là sách tham khảo chất lượng cao), do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành nhân kỷ niệm 55 năm ngày thành lập của mình; nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, giảng dạy của học sinh, sinh viên, giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục và đông đảo bạn đọc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, dân trí xã hội trong thời kỳ mới. Tham gia biên soạn mảng sách này là các nhà khoa học đầu ngành, nhà giáo, nhà quản lý giỏi, nhiều kinh nghiệm, có uy tín đối với độc giả. “Nguyễn Ðình Chú tuyển tập” do PGS.TS. Nguyễn Công Lý tuyển chọn và giới thiệu, là tuyển chọn các công trình tiêu biểu của Giáo sư Nguyễn Ðình Chú đã được công bố trên các sách và tạp chí (từ năm 1958 đến nay) được đồng nghiệp, các nhà khoa học và bạn đọc ghi nhận, hoan nghênh.

Với các bài viết tiêu biểu cho tư duy, phong cách của Nguyễn Ðình Chú, bạn đọc có thể yên tâm từ nay mình đã có một tư liệu tham khảo có giá trị, thiết thực với nhiều góc nhìn sáng tạo từ tác giả. Các tiểu luận, bài viết vốn ra đời trong từng hoàn cảnh cụ thể và riêng biệt, nhưng Tuyển tập đã sắp xếp lại thành hệ thống, trật tự theo yêu cầu nhận thức về lịch sử văn học Việt Nam, bao gồm những vấn đề khái quát chung, tiếp đó là những vấn đề cụ thể thuộc lịch trình vận động của hai thời kỳ văn học trung đại và cận – hiện đại, cụ thể chia thành ba phần như sau:

Phần 1 nêu Mấy vấn đề chung về lịch sử văn học Việt Nam (gồm 8 bài viết) được Giáo sư Nguyễn Ðình Chú tập trung phân tích về lịch sử văn học Việt Nam với một cái nhìn tổng quát, sâu rộng. Qua cái nhìn đa diện của ông, cấu trúc tổng thể của nền văn học dân tộc được nhận thức trọn vẹn, diện mạo của nền văn học Việt Nam được hiện lên đầy đủ. Ông đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận mới, hợp lý đối với cách sắp xếp hệ thống lịch sử nói chung và những ý tưởng đột phá đối với những vấn đề cụ thể trong nền văn học. Liên quan việc phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam, ông đề nghị bổ sung thêm một khái niệm công cụ nữa cho việc phân kỳ là “phạm trù văn học” (bên cạnh việc phân kỳ quen thuộc dựa trên các bình diện: vương triều phong kiến, theo thời gian, theo từng thế kỷ, theo các mốc lớn của lịch sử…). “Phạm trù văn học” được ông xác lập nội hàm một cách hệ thống và chặt chẽ gồm ba bộ phận: Những yếu tố gián tiếp chi phối văn học, những yếu tố trực tiếp liên quan tới văn học và những yếu tố thuộc chính bản thân nền văn học. Bổ sung cách phân kỳ này, việc nhận thức về quá trình vận động của lịch sử văn học dân tộc nói chung và về tác giả, tác phẩm cụ thể của mỗi phạm trù văn học sẽ được nâng cao rõ rệt.

Phần 2 giới thiệu Về văn học trung đại Việt Nam (gồm 38 bài viết), ông nhắc đến nhiều tên tuổi làm nên cốt cách văn học thời kỳ bấy giờ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…, trong đó tác giả văn học được ông dành nhiều bút lực và nhiệt tình, tập trung hơn cả là Nguyễn Du, Nguyễn Ðình Chiểu và Tú Xương. Ðối với tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, bằng cách tư duy trừu tượng khoa học và tư duy triết học, tác giả đã đưa ra cách hiểu nội dung tác phẩm hoàn toàn mới. Trong bài viết “Nghĩ thêm về Chuyện người con gái Nam Xương”, tác giả cho rằng, việc mặc định chủ đề tư tưởng cho tác phẩm như lâu nay (“nỗi khổ của phụ nữ do chế độ nam nữ bất bình đẳng và chiến tranh gây nên”) chỉ mới là giá trị lộ thiên, còn giá trị sâu xa của tác phẩm chính là “sự mong manh, vô cùng mong manh đối với hạnh phúc của người đàn bà, bởi sự sống vốn những thứ ma quái, trớ trêu muôn đời chẳng liên quan đến hình thái xã hội, đến chiến tranh”. Từ đó, ông cho rằng “Chuyện người con gái Nam Xương” có ý nghĩa triết học sâu hơn, cao hơn “Truyện Kiều”, bởi nó đụng chạm vào được cái sự ma quái có thực trong cuộc sống của người đàn bà muôn nơi, muôn thuở. Bài viết trên được nhiều người thích thú là nhờ có cách nhìn triết học và mới mẻ như thế. Còn trong bài “Vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong văn học Việt Nam thời trung đại”, Giáo sư Nguyễn Ðình Chú đã có góc nhìn triết học tường tận về sự sống con người – cá thể để dẫn đến cách nhìn hiện tượng “ngã” và “phi ngã” trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại rất thuyết phục, khiến Giáo sư Lê Trí Viễn khi đọc bài này cũng phải thốt lên “ông Chú đã dạy lại chúng ta những điều này”.

Phần 3 bàn luận Về văn học cận – hiện đại Việt Nam (gồm 33 bài viết), tác giả đã có cách nhìn mới mẻ về thời cuộc, làm nổi bật những tác giả có sức ảnh hưởng lớn đến sự phát triển văn học của thời kỳ mới như Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Ðức Kế, Hoàng Ngọc Phách, Hoài Thanh,… trong đó dày công hơn là với Phan Bội Châu, Tản Ðà, Hồ Chí Minh. Cùng với thành quả nghiên cứu tác gia, tác phẩm là các tiểu luận khái quát chung hay từng bộ phận thuộc thời kỳ văn học cận – hiện đại. Ðáng chú ý, trong bài “Cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939”, tác giả đã có sự nhìn nhận về cuộc tranh luận sau gần hai phần ba thế kỷ một cách khoa học, khách quan, với sự khảo cứu công phu, phân tích xác đáng và chứng minh cụ thể, thấu tình đạt lý.

Trên chặng đường mình đi, Giáo sư Nguyễn Ðình Chú đã để lại niềm tin yêu với đồng nghiệp, học trò và đông đảo bạn đọc. Học trò Phúc Sơn (K55C khoa Ngữ Văn – Ðại học Sư phạm Hà Nội) đã viết về người thầy của mình như sau: “Hơn nửa thế kỷ trước, khi là sinh viên Văn khoa như chúng tôi bây giờ, anh sinh viên Nguyễn Đình Chú đã được học với nhiều vị “sư biểu” của nền giáo học Việt Nam thời bấy giờ. Ở thế hệ “một đi không trở lại” đó, Nguyễn Đình Chú học được đức độ của GS. Đặng Thai Mai, uyên bác của GS. Cao Xuân Huy, trí tuệ của GS. Trần Đức Thảo… Tư duy tích hợp Văn – Sử, Văn – Triết, Văn – Sử – Triết đã giúp thầy có một cái nhìn biện chứng về khoa học văn học”. Nhờ có sự vận dụng tư duy triết học và tư duy trừu tượng khoa học cộng với thái độ trung thực, khách quan và thực sự cầu thị, Giáo sư Nguyễn Ðình Chú đã được Giáo sư Trương Chính nhận xét: “Trong những người đồng nghiệp, tôi trọng anh Chú nhất, bởi anh ấy thành thực với đời và với bản thân mình. Theo tôi đấy mới là người biết sống”.

Cái hay của các bài viết được chắp bút bởi Giáo sư Nguyễn Ðình Chú là viết về văn học bằng tư duy khoa học nhưng lại không khô khan, cứng nhắc, khó hiểu, khó cảm. Mỗi bài viết là một tác phẩm nghệ thuật đích thực, người thưởng thức sẽ không chỉ thấy tác giả là nghệ sĩ, mà sau khi được chiêm nghiệm những câu chữ đó cũng thấy mình trở thành người biết nhìn ra những giá trị sâu sắc từ những gì tác giả truyền tải. Một số bức ảnh được đính kèm trong Tuyển tập đã giúp minh họa rõ hơn về những khoảnh khắc đáng nhớ trong cuộc đời Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã được Nhà xuất bản Giáo dục ưu ái trình bày bằng loại giấy sáng, bóng, mịn, mềm, thể hiện sự trân trọng của những người làm sách đối với người thầy giáo đáng kính. Với 1094 trang sách chứa một hàm lượng lớn trí tuệ sâu sắc của Giáo sư Nguyễn Ðình Chú, Nhà xuất bản Giáo dục đã giúp bạn đọc bắc nhịp cầu nối đến với một tâm hồn mẫn tiệp. Sách xuất bản năm 2012 với số lượng 600 cuốn chắc sẽ còn tái bản nhiều lần mới đáp ứng đủ nhu cầu bạn đọc trong việc tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp Giáo sư Nguyễn Ðình Chú và những góc nhìn độc đáo của ông về văn học Việt Nam.

____________

Viết xong 15.7.2012.

 

Published in: on 28/11/2017 at 2:40 Chiều  Gửi bình luận  

Những tháng năm còn mãi

Tôi đã đọc được ở đâu đó rằng, phải biết ngạc nhiên về cuộc sống. Ngạc nhiên hướng chúng ta đến một trạng thái đứng ra ngoài những khuôn mẫu có sẵn. Không phải lúc nào cũng đặt kế hoạch và mong muốn mọi thứ phải răm rắp nghe theo. Ðiều ngạc nhiên lớn nhất trong thời điểm này của tôi, đó là con gái tôi đã biết yêu thích sách sớm hơn tôi ngày xưa. Con không phải đợi đến lúc sắp rời cấp 3 mới thực sự biết được những điều quý giá từ sách như mẹ mình, mà con yêu sách trước cả khi con bắt đầu bập bẹ học chữ.

***

Anh họ tôi có một chị bạn thân vừa dễ thương vừa học giỏi. Tôi gặp chị khi chị đang ngồi cắm cúi đọc một quyển sách trong giá sách của anh. Chị cởi mở với tôi ngay từ phút đầu, và câu chuyện của chúng tôi đã xoay quanh cái giá sách ấy. Tôi không phải là người thích sách, nên nói năng có phần gượng ép. Nhưng câu chuyện của chị cuốn hút quá, khiến tôi bị cuốn vào, rồi những ngày sau đó, tôi muốn gặp chị nhiều hơn. Tiếp xúc với chị, tôi học được bao điều, dần dần yêu sách theo cái cách mà chị yêu. Những năm 90, thỉnh thoảng tôi được anh chị cho bám càng trên chiếc Cup 50 màu xanh lá cây bạc màu vi vu trên phố. Ðịa điểm chúng tôi hay ghé là hàng kem Thủy Tạ và hiệu sách Nhà xuất bản Giáo dục. Có lần, chị bảo tôi mới có nhuận bút bài đăng báo, muốn tặng tôi quyển sách, thế là cả ba chúng tôi lại đến hiệu sách quen. Ngang qua rạp chiếu bóng, tôi trêu chị: “để em trông xe anh chị vào xem nhé!”. Chị cười: “Đi mua sách cho em thích hơn”. Cuốn sách đó giờ vẫn nằm trên giá sách nhà tôi cùng dòng chữ thanh thanh chị viết tặng. Phải nói thêm, chị cũng là một trong những tác giả Ðại học Sư phạm năm 1986 vinh dự được tham gia Trại Biên soạn sách ở Quảng Bá – Hạ Long do Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức. Chị cứ nhắc lại nhiều lần về chuyến đi ấy như muốn được quay trở lại thời khắc đẹp một lần nữa trong đời. Lúc đó, tôi còn là cô học sinh ngô nghê, nghe chị kể cứ mắt tròn mắt dẹt, trong người hừng hực khí thế quyết tâm phải thi đỗ đại học bằng mọi giá để thực hiện được ước mơ viết lách của mình.

Khi đã thực hiện được ước mơ, tôi đến trường bằng chiếc Phượng Hoàng màu xanh ngọc yêu thích. Sau giờ học, tôi và cô bạn thân thường đạp xe trên những con đường vắng rợp bóng cây. Lúc thì ghé qua 149A Yên Lãng (cửa hàng bách hóa của Công ty Bách hóa Hà Nội) mua tập giấy, cái bút. Thỉnh thoảng rời xe từ hàng đánh máy chữ trên phố Phan Ðình Phùng mát xanh hàng lá sấu, chúng tôi lại tạt ngược lại hiệu sách Nhà xuất bản Giáo dục. Hôm nào không có tiền còn tranh thủ “coi cọp”. Các cô bán hàng biết lũ sinh viên nghèo, thấy đứng mọc rễ với quyển sách, cũng chỉ cười hiền lành. Những cuốn sách chuyên ngành như “Ngữ âm học đại cương” (Zinder) xuất bản năm 1964 hoặc “Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương” (Rozhdestvenskij), “Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương” (Kasevich), “Dẫn luận ngôn ngữ học” (Nguyễn Thiện Giáp, Ðoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết)… xuất bản sau này, của Nhà xuất bản Giáo dục, đã giúp tôi rất nhiều trong chuyên ngành của mình.

Lấy chồng, tôi ở khu Hoàng Cầu, cũng không mất nhiều thời gian để ra hiệu sách, nên tôi vẫn giữ được thói quen ngày sinh viên. Mỗi lần dẫn con đi dạo, tôi lại vào hiệu sách tìm kiếm sách hay và thường xuyên nhất là mua truyện về đọc cho con nghe. Có lẽ vì con theo mẹ đi hiệu sách từ nhỏ, nên tình yêu sách của con được thấm dần, ngấm dần lúc nào không hay. Con tôi bắt đầu vào lớp 1, tôi hào hứng cùng con đi mua những cuốn sách giáo khoa dành cho năm học mới. Con thích lắm, lũn cũn đi theo mẹ và cùng mẹ tìm sách, tìm dụng cụ học tập. Ngoài bộ sách giáo khoa với những cuốn sách cần thiết, con còn xin mẹ mua những cuốn sách truyện mà con thích để làm đầy thêm giá sách của con. Tôi cũng kết hợp mua thêm sách bổ trợ để con có điều kiện tham khảo và học hỏi, nâng cao trình độ và khả năng cảm thụ bài vở. Tôi biết, muốn con yêu sách, không thể ép buộc cứng nhắc. Chỉ có thể “dụ dỗ” con bằng sự cuốn hút của thế giới bên trong sách với cách gợi ý tinh tế, khéo léo, cho con được là chủ thể khám phá ra vẻ đẹp ấy một cách tự nhiên. Nhìn con vui với sách, tôi cũng cảm thấy như được trở về với những ngày cuốc bộ đến trường với khăn quàng đỏ thắm trên vai.

Con tôi tính tình nhanh nhẹn và thông minh, phải cái chữ xấu. Các bạn cùng lớp phần đông đã đi học hè trước khi vào năm học để rèn chữ, còn vợ chồng tôi thì muốn để con vào lớp 1 mới học cho đúng cơ bản, nên khi con vào lớp đã phải cố gắng luyện viết nhiều hơn. Tôi giao nhiệm vụ luôn cho em trai tôi “cậu viết chữ đẹp, phải giúp chị kèm cặp cháu thường xuyên cho cháu tiến bộ”. Chả là năm 2002, chị em tôi được bố mẹ đưa vào Thành phố Hồ Chí Minh chơi nhân chuyến công tác dài ngày. Vào đúng thời điểm trường của em gái con nhà chị họ đang tổ chức lễ trao giải “Hội thi Viết chữ đẹp bậc Tiểu học cấp Quốc gia”, có thời gian rảnh rỗi, hai chị em tôi đi theo em họ đến trường dự lễ. Lễ trao giải rất đông vui, tôi còn thấy Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặng Huỳnh Mai và Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Ngô Trần Ái lên trao giải cho các em học sinh đạt giải viết chữ đẹp. Ngồi ở dưới, em trai tôi tỏ ra xấu hổ bởi cái thói viết ẩu của mình. Lần đó về, em chăm hẳn, chịu khó nắn nót, sau còn được tham gia thi viết chữ đẹp ở trường. Giờ đến lượt cậu dạy cháu viết chữ, con gái tôi tiến bộ từng ngày. Nhìn hai cậu cháu ngồi luyện chữ, rồi cậu say sưa đọc truyện cho cháu nghe, cháu thì mở to mắt để đón từng lời truyền cảm của cậu, tôi thấy lòng thật ấm áp.

Trên giá sách của cậu còn nhiều sách và tạp chí mà cháu gái cậu có thể thừa hưởng như Tạp chí “Toán tuổi thơ” của Nhà xuất bản Giáo dục ra đời từ cuối năm 2004. Ngay cả những truyện đọc thêm của môn Giáo dục Công dân như “Dấu lặng của rừng” cũng được em trai tôi giữ gìn cẩn thận, bảo để lại cho cháu học, giúp cháu thấy được ý nghĩa của môn Giáo dục Công dân tưởng chỉ là môn phụ. Một ngày nắng ấm, em trai tôi khệ nệ khuân một bọc sách cũ sang nhà tôi. Chao ôi, còn đủ cả những quyển truyện của lứa tuổi mẫu giáo như bộ truyện “Khi chúng ta là trẻ con” với những câu chuyện nhỏ thú vị: “Chúng tớ tung tăng bơi lội”, “Chuyện rắn chuyện rùa”, “Chuyện chị bướm cô nhện”… Rồi “Cánh diều đợi gió”, “Điều ước sao băng”, “Hạt nắng bé con”,… do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành. Cu cậu có vẻ tiếc nuối bọc sách cũ này lắm, nhưng bảo vì muốn cháu được hưởng những ích lợi của sách mà cậu đã từng được hưởng, “cậu cho mượn, cháu phải giữ gìn cẩn thận, sau này còn trả cậu”. Tôi biết em trai tôi nói thật, vì cậu đang có ý định trong tương lai sẽ có một bảo tàng sách gia đình, trong đó sẽ không thể thiếu những cuốn sách từ ngày ấu thơ…

***

Vì là người bạn lâu năm của Nhà xuất bản Giáo dục, lại từng làm trong mảng thư viện, nên những thông tin về Nhà xuất bản cũng được tôi theo dõi đều đặn. Tôi được biết Nhà xuất bản Giáo dục luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu mỗi học sinh có đủ một bộ sách giáo khoa để học, đáp ứng cho từng giai đoạn phát triển của Ngành. Nhà xuất bản cũng quan tâm đến việc thực hiện Chính sách xã hội về sách giáo khoa như giữ ổn định giá bán lẻ, phát phiếu ưu tiên cho học sinh giỏi, nghèo, đầu tư xây dựng thư viện trường học và tặng sách cho các dân tộc vùng sâu vùng xa… Ðó là việc không phải nơi nào cũng có thể thực hiện, nhất là trong thời điểm nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Nhà xuất bản Giáo dục đã chứng tỏ được vai trò thực sự của mình trong sự nghiệp “trồng người” – sự nghiệp quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia.

Con gái tôi tuy mới vào lớp 1, nhưng tôi đã nhìn thấy trong con một tình yêu thực sự với sách, bắt nguồn từ những điều nhỏ bẻ tôi vun đắp hàng ngày. Tôi đọc sách và đã nghiệm ra, con người như mũi tên trên hành trình đời sống, nếu ta cứ cắm cúi lao đi chẳng kịp nhìn ngắm những vẻ đẹp nhỏ bé bên đường, thì sẽ ngày một khô cằn và mất mát yêu thương. Ðọc sách là để “sống chậm”, vừa sống vừa suy ngẫm, ngẫm cái đã làm để làm tốt hơn cái sẽ làm. Mũi tên vừa bay vừa có thể quan sát và nhìn ngắm, sẽ chẳng chệch tâm đâu, mà cảm giác thì khác nhiều lắm! Vì nó không chỉ là đích đến, nó là hành trình. Trong hành trình sống của mẹ con tôi, những cuốn sách luôn là người thầy, người bạn thân thuộc, cho hành trình sống thêm ý nghĩa và đích đến sẽ là hoa trái ngọt lành.

——————–

Viết cho Kỷ yếu 55 năm Nhà xuất bản Giáo dục (tháng 9 năm 2012).

 

Published in: on 28/11/2017 at 2:31 Chiều  Gửi bình luận  

“Dấu thời gian” của Nguyễn Minh Khang – những điều đọng lại

“Mỗi ngày là một bài thơ / Mỗi ngày là một giấc mơ diệu huyền”

Đọc câu thơ trên của Nguyễn Minh Khang, tôi cảm thấy thêm yêu cuộc đời. Bởi nghĩ đến thơ là nghĩ đến cái đẹp, nếu “mỗi ngày là một bài thơ”, thì cuộc đời này thật thú vị, thật đáng sống. “Bài thơ” và “giấc mơ” đều đem lại cảm giác nhẹ nhõm, ảo diệu. Cuộc đời cũng thế, cần có sự “diệu huyền” giữa bộn bề lo toan, trăn trở, để con người có thể làm được nhiều điều đẹp đẽ hơn trong hành trình sống còn nhiều gian nan. Sự “diệu huyền” không tự nhiên có, mà do chính chúng ta tạo nên bằng nỗ lực sống đẹp. Với tôi, Nguyễn Minh Khang là một người sống đẹp như thế, bắt đầu từ những vần thơ…

***

Ấn tượng với tập thơ “Hằng đêm” vẫn chưa phai nhạt thì tôi đã lại được cầm trên tay tập thơ mới “Dấu thời gian” của Nguyễn Minh Khang, chứng tỏ sức làm việc miệt mài của người cầm bút. Tôi đã đọc một mạch tập thơ này (hiếm có tập thơ nào khiến tôi đọc một mạch như thế) và thực sự hứng thú. Ngay lập tức chắp bút viết đôi dòng cảm nhận, dù biết rằng ngôn từ của mình còn ngây ngô, sự cảm nhận của mình còn nông cạn trước một tâm hồn thơ sâu sắc.

Không kể bìa thơ có màu sắc vàng – xanh trầm rất “thời gian” với rặng mây – núi mờ ảo gợi cho người đọc một hình dung miên man về bước đi của ngày tháng; không kể lối trình bày xen kẽ tranh ảnh minh họa; không kể font chữ nền nã phù hợp với nội dung thơ…, chỉ riêng cái tựa đề đã làm nên một dấu ấn. Tựa đề “Dấu thời gian” thể hiện dấu vết được lưu lại của ngày tháng trong hành trình đời người. Dù thời gian là khái niệm trừu tượng, vô hình, chỉ vận động theo một chiều duy nhất từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, nhưng bằng cái nhìn tinh tế của tác giả, nó đã được in dấu lại tươi mới trong từng chi tiết của đời sống. Đặt tựa đề cho tập thơ như thế, chắc chắn Nguyễn Minh Khang hiểu rất rõ vai trò của thời gian trong đời sống. Khi con người ý thức được sự vận hành của thời gian, sẽ khiến thời gian trở nên có nghĩa, dù đó là thời gian đã qua.

Ký ức chiến tranh – Nghĩa tình đồng đội

Một mảng đề tài quen thuộc, trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Minh Khang là hình ảnh người lính: người lính trong ký ức và trong hiện tại. Người quen thơ Nguyễn Minh Khang hiểu rằng, dù làm thơ về đề tài nào đi nữa thì mảng đề tài người lính không bao giờ ngừng lại trong mạch thơ anh. Nỗi nhớ, nỗi ám ảnh, ký ức về cuộc chiến và đồng đội luôn còn lại nguyên vẹn. Tuy đã trở lại thời bình, hòa nhịp vào đời sống sôi động, nhưng những ngày bom đạn khốc liệt bên đồng đội yêu dấu đã là một phần máu thịt của anh mà không ai có thể tước bỏ.

Đọc bài thơ “Phim trong thành cổ” có ai không rưng rưng khi người sống và người chết đang ngồi bên nhau để cùng ôn lại những khoảnh khắc hào hùng mà cũng đầy đau thương mất mát: “Buổi chiếu phim nào như buổi chiếu này không?/ Hàng ghế trước dành cho người liệt sỹ/ Nền cháy đỏ các anh ngồi lặng lẽ/ Phim chiếu về anh đang bắn đạn đỏ nòng”. Anh còn trăn trở với người lính thời bình, sau cuộc chiến họ sống như thế nào, tinh thần họ ra sao: “Người về sau chiến thắng/ Khắc khoải đời mưu sinh” (Ký ức); “Thanh bình giữa chốn quê nhà/ Chiếc xe lăn, bóng chiều tà loay hoay/ Cuộc đời xoay những vòng xoay/ Sáng chiều với chiếc xe này tự lăn” (Anh thương binh và chiếc xe lăn). Từ “khắc khoải”, “loay hoay” thể hiện sự khó khăn của người lính trong việc hòa nhập vào thực tại, người lính không chỉ đối diện với nỗi đau thân thể mà hơn nữa còn phải đối diện với những thử thách khắc nghiệt của đời sống. Lời thơ đồng cảm mà chỉ có những người từng đi qua chiến tranh như Nguyễn Minh Khang mới có thể thốt ra.

Cái tình với người lính của anh thể hiện rõ nhất trong những bài thơ gọi hồn đồng đội: “Ký ức giữa thời bình/ Không nguôi ngoai nỗi nhớ/ Tháng ngày luôn trăn trở/ Đồng đội nằm nơi đâu” (Ký ức). Nhất là vào thời điểm cuối năm, khi nhà nhà xum họp quây quần, anh càng thương đồng đội mình hơn: “Hồn đồng đội chín mười phương/ Chiều ba mươi tết nhớ đường về quê” (Đón anh ngày tết cổ truyền); “Còn những ai chôn vội/ Hồn vẩn vơ nơi chốn núi rừng… Đồng đội gối đất nằm sương/ Chiều ba mươi tết khói hương nhớ về” (Nghĩa trang chiều ba mươi tết). Những chuyến đi thăm đồng đội không khiến anh nguôi ngoai nỗi nhớ: “Đêm mênh mông mong đồng đội về cùng/ Bập bùng đèn hoa giăng lưới/ Cầu siêu cho những người đồng đội/ Một thời thấm máu Khe Sanh” (Khe Sanh đêm cầu nguyện). Nỗi đau không chỉ dừng lại ở quá khứ, nó còn dai dẳng trong lòng những người thân của họ: Nghĩa trang liệt sỹ quê tôi/ Ba ngày một đám tang khô/ Bảy ngày một nhà nhận huyệt (Còn mãi chờ anh). Chữ “đám tang khô” không khỏi khiến người đọc giật mình, ngậm ngùi. Bên cạnh đó, những bài thơ như Làng Ho, Hang tám cô, Liệt sỹ vô danh, Nghĩa trang làng Cùa, Liệt sỹ tuổi đôi mươi, Tháng tư nhắc nhớ một thời, Đồng đội của tôi… cũng để lại cho người đọc những xúc cảm bâng khuâng, những suy ngẫm về chiến tranh và mất mát. Bằng thơ, Nguyễn Minh Khang muốn lưu lại ký ức chiến trường để “cho quá khứ sẽ không là dĩ vãng/ cho quá khứ sẽ không vào tĩnh lặng” (Mùi cỏ cháy). Nỗi ám ảnh về chiến tranh không phải là sự sợ hãi hay những kể lể về sự khổ đau, mà là ám ảnh về sự cô đơn của đồng đội đã hy sinh còn nằm lại chiến trường, đó mới thực sự là tính nhân văn đáng trọng trong thơ Nguyễn Minh Khang.

Triết lý sâu sắc từ những điều giản dị

Đọc thơ Nguyễn Minh Khang mới thấy anh trăn trở, suy tư nhiều về cuộc sống. Thơ là ngôn ngữ đẹp nhất giúp anh biểu đạt những suy nghĩ của mình. Từ những chi tiết nhỏ bé, anh rút ra những điều sâu sắc khiến người đọc không thể không dừng lại suy nghĩ, ngâm ngợi cùng anh. Quan niệm về cà phê của anh cũng rất tinh tế: “Cà phê máy lạnh giết chết thời gian/ Cà phê vườn cà phê du hí/ Cà phê bụi cà phê tri kỷ” (Không gian café). Cà phê “máy lạnh” thể hiện sự hưởng thụ, “cà phê vườn” thì nuông chiều cảm xúc, chỉ có “cà phê bụi” mới đem lại cho người nghệ sĩ âm thanh chân thực của cuộc sống, từ đó chiêm nghiệm ra nhiều điều ý nghĩa mà “máy lạnh” không đủ sức đem lại được. Trong mọi việc, anh cũng có một đúc kết thật hay để nhắc nhở con cái mình: “Đừng so đo, chớ suy bì/ Bền lòng, vững chí việc gì cũng vui” (Tấm lòng son)… Loạt thơ thể hiện sự chiêm nghiệm, triết lý của tác giả đã cho thấy một tư duy thơ logic, chịu đào sâu suy nghĩ để đúc kết ra những chân lý dù giản dị nhưng sâu xa.

Quê hương hiện ra từ nỗi nhớ

Trong tập thơ, tôi thích nhất là những câu thơ quê của Nguyễn Minh Khang. Những câu thơ bình dị, nhẹ nhàng, dường như tuôn ra không cần chỉnh sửa mà vẫn không hề dễ dãi. Qua những câu thơ ấy, người đọc thấy hiện lên một miền quê thanh bình, mộc mạc, ấm áp tình người: “Miền quê tôi em có về cùng/ Ngọt lịm bờ môi hương chuối mỏng” (Hương chuối cốm). Tác giả dùng những từ rất hay để miêu tả thiên nhiên như “gió the the”, “hương chuối mỏng” khiến người đọc có thể tự do tưởng tượng ra hơi gió, hương chuối thật thân thuộc nhưng cũng rất đặc biệt. Trong “Sắn khoai, đậu đỗ, dưa cà/ Nhãng quên vị ấy ắt là mất quê” (Quà quê), tác giả dùng chữ “nhãng” thay cho chữ “lãng”, chất quê đã trở nên đậm đà hơn. Ở miền quê hương ấy, thời thơ ấu được tác giả miêu tả là một vùng tuổi thơ đẹp đẽ nhiều kỷ niệm: “Chân ngâm bùn tím màu da/ Tay khua cỏ rối cóng tà áo bông” (Mưa gió tháng ba) hay “Ta vẫn là cu Típ ngày xưa/ Ngày cắt cỏ chăn trâu đánh bi đánh đáo/ Rét căm căm lội đồng bắt con cá cóng/ Nắng chang chang bắt cua dội trên bờ” (Kỷ niệm thời thơ ấu). Và trên hết là cái tình quê thật thà, sâu đậm mà người ta khó thấy ở thành thị xô bồ: “Người quê tôi nặng tâm tư/ Người nhập cư với ngụ cư quây quần” (Quê nghèo). Bên cạnh thiên nhiên thênh thang, hình ảnh mẹ, em, người dân quê hồn hậu và cả hình ảnh của chính nhà thơ đã làm cho quê hương của tác giả nói riêng và những miền quê Việt Nam tác giả đã đặt chân đến trở nên đẹp đẽ, thơ mộng và thiêng liêng hơn.

Trở trăn nỗi niềm thế sự

Từ quê mình tới quê người, từ nước mình sang nước bạn, đến đâu nhà thơ cũng thấy có nhiều điều để nói. Không nỗi buồn trăn trở thì là nỗi nhớ vấn vương hoặc thanh bình hơn là những lời thơ tả cảnh trong lành, lãng mạn. Vậy là thấp thoáng trong con người thơ Nguyễn Minh Khang còn có cả một nhà báo, một nhà triết học, một nhà tâm lý học, một họa sỹ… Tâm hồn đó dường như chưa bao giờ ngừng suy nghĩ, chiêm nghiệm và yêu thương. Ở nước mình thì “Ruộng khô, bờ cạn do đâu?/ Thủy điện tăng nhiệt, ngăn đầu chặn đuôi…/ Phải chăng tất cả do trời?/ Cứ đập, cứ phá, hỡi ôi… tan tành” (Tàn phá); “Quy hoạch mang lại những gì/ Mà quê nhà phải rời đi khỏi làng?” (Tấc đất tấc vàng). Qua Trung Quốc, nhà thơ không khỏi băn khoăn về tính cách “ai cũng biết” của anh bạn láng giềng: “Trung Hoa đang thời đại công trường/ Mở cửa mà kín cổng cao tường/ Trí tuệ loài người thu nạp lại/ Khôn của riêng mình chẳng chia ai” (Trung Hoa thời mở cửa). Sang nước Nga xa xôi, tác giả cũng không khỏi đau lòng nêu lên câu hỏi “Emeral, đóng cửa rồi ư? Theo vết chợ Vòm/Người Việt bơ vơ/ Ngẩn ngơ nơi đất khách” (Emeral nỗi bơ vơ). Đến nước Mỹ, thăm tượng đài ở Washington, Nguyễn Minh Khang đã viết những câu thơ phê phán sự phi nghĩa của chiến tranh và sức mạnh của tình yêu: “Washington hỡi những tâm hồn/ Những cái đầu nóng lạnh/ Hãy để tình yêu là sức mạnh/ Chiến tranh ư? Hoa úa dưới tượng đài” (Tưởng niệm)… Còn nhiều nữa những vùng đất tác giả đã đi qua như: Lasvegas – “thành phố của những người sống vội”, Triều Tiên  – “cờ giới tuyến tranh nhau cao thấp”, Hàn Quốc – “xứ sở sương mù, ngàn năm văn hiến” hay Lào với “Xiêng Khoảng trời mây, Đồng Chum giăng nắng”… đều khiến hồn thơ tuôn trào, thơ lúc này trở thành nhật ký chuyến đi sống động.

Thơ dặn mình

Nhà thơ có một niềm hạnh phúc, một sự ủi an đặc biệt mà những người không làm thơ khó có thể cảm nhận được. Những khi buồn, hoang mang, cô đơn, người làm thơ luôn có thơ là bạn tri kỷ. Nguyễn Minh Khang có nhiều bài thơ nói với mình, dặn dò mình, như là cách tự an ủi, động viên bản thân, nhắc mình sống cho “tịnh tâm”, “thanh thản”: “Cuộc đời ánh chớp có rồi không/ Giấc mơ chẳng bao giờ là thực/ Trở lại bình yên tịnh tâm cõi Phật/ Dòng đời lặng lẽ thời gian” (Dấu vết thời gian). “Già trẻ, buồn vui cũng điểm dừng/ Đời vô thường ánh chớp/ Tĩnh tâm và chân thật/ Thanh thản đời ung dung” (Ung dung). Có lúc nhà thơ lại tự trào thật vui, thật trong trẻo: “Một củ su hào, hai quả cà chua/ Một lon gạo lứt là vừa tối nay/ Cuộc đời đã hết vòng xoay/ Cơm rau đạm bạc, đủ ngày tháng trôi/ Thảnh thơi yên phận với đời/ Thần tiên trần thế ơi người đồng cam (Đạm bạc). Anh đưa ra những đúc rút vừa ngắn gọn vừa ý nghĩa, chỉ vài câu thơ đã toát lên một triết lý, một quan niệm sống đúng đắn: “Làm việc miệt mài/ Ăn đại khái/ Tâm hồn sảng khoái/ Phải trái phân minh/ Sống hết lòng mình/ Cuộc đời thanh thản” (Làm việc). Bao nhiêu năm làm việc trong ngành xuất bản, người làm thơ suốt đời gắn bó với sách, lấy sách làm niềm vui lớn của mình: “Tuổi già đọc sách ấy niềm vui/ Tâm đắc văn chương ngẫm sự đời” (Niềm vui); “Ngày đọc vài trang sách/ Đêm nghe mấy vần thơ” (Thi vị). Anh luôn coi lời nói không phải là thứ lời dễ dãi, tự phát mà thể hiện nhân cách, lối sống của một con người, nên anh dặn mình “Đừng suồng sã để lòng sám hối/ Cả cuộc đời lời nói dẫn ta đi (Lời nói). Qua nhiều trải nghiệm buồn vui, sướng khổ của “cuộc đời vinh nhục đục trong”, Nguyễn Minh Khang nghiệm ra rằng: “Đừng mong điều gì hoàn hảo/ Gập ghềnh kề phía bên kia/ Đừng như thủy tinh tráng lệ/ Vỡ ngay sau cái đụng hờ” (Điểm dừng). Con người sống mà biết “tri túc” chẳng phải là đã biết sống lắm sao!

***

Nếu làm thơ chỉ để thỏa mãn cái tôi với những lời lẽ thở than ủy mị hay ru ngủ, đề cao mình thì thơ sẽ không đầy đủ giá trị như người đời xưng tụng. Với Nguyễn Minh Khang, thơ là đời, thơ thể hiện cái tình nhưng không chỉ là cái tình riêng tư mà là tình người, tình đời, tình yêu quê hương đất nước và cao hơn nữa là tình yêu nhân loại. Thơ Nguyễn Minh Khang phong phú về nội dung, giàu nhạc cảm, ngôn ngữ giản dị nhưng không tẻ nhạt, dễ dãi. Chính vì thế mà người đọc thơ của anh không có cảm giác buồn bã, chán trường, cũng không thấy nặng nề dù anh vẫn trăn trở sâu xa về nhân tình thế thái. Tính thời sự trong thơ khiến cho nhiều bài thơ trở thành một bài báo nghệ thuật. Những mảng thơ tưởng như độc lập nhưng đứng chung với nhau trong một tuyển tập bỗng trở nên gắn kết, mà chất keo dính chính là tâm hồn tràn ngập yêu thương của một công dân, nhà thơ sống có trách nhiệm với đời. Hơn 130 câu thơ, câu đối ý nghĩa đã làm nên một “Dấu thời gian” đáng nhớ trong lòng bạn đọc, đem lại cho đời sống văn học nghệ thuật một làn hương dịu nhẹ, mà như Nguyễn Minh Khang đã viết “Thời gian nước chảy mây trôi/ Dòng thơ góp chút mật đời tỏa hương”.

_____________

Viết tháng 12/2012.

Published in: on 28/11/2017 at 2:21 Chiều  Gửi bình luận  

Chia sẻ phương pháp giới thiệu sách văn học hiệu quả

Vì blog tôi có mục “Sách & Thư viện” nên tôi sẽ cần mẫn lưu lại những bài viết có nội dung liên quan mục này, dù có thể chúng khô cứng, thiên về chuyên môn, kén người đọc hoặc đã lỗi thời theo năm tháng. Cũng là cách tôi có thể nhìn lại hành trình gắn bó với sách và thư viện trong suốt thời gian qua và là nơi lưu trữ lý tưởng để tôi có thể tìm kiếm tư liệu cá nhân một cách dễ dàng nhất. Bài viết sau đây sản xuất từ 2013.

________________

Trong thời đại các phương tiện nghe nhìn ngày càng phát triển với tốc độ cao, sự độc tôn của sách giấy đã không còn. Sách văn học, một trong những thể loại có sức thu hút độc giả lớn nhất từ trước đến nay cũng phần nào suy giảm. Với độc giả hiện đại, việc phải đọc những tác phẩm văn học với nhiều tầng lớp nghĩa đang là một thách thức. Để thể loại này đến gần người đọc hơn, bên cạnh chiến lược dài hơi của các cơ quan ban ngành, giáo viên và cán bộ thư viện cần ý thức sâu sắc hơn nữa về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc duy trì tình yêu của độc giả đối với tác phẩm văn học, từ đó tìm ra phương pháp tuyên truyền, giới thiệu sách hiệu quả.

Mỗi người, theo cách của riêng mình, sẽ có một cách giới thiệu sách khác nhau. Đôi khi ở người này giới thiệu như thế là hay, nhưng ở người khác áp dụng phương pháp ấy lại không cuốn hút. Nói vậy để thấy rằng, không có một khuôn mẫu nhất định đối với quy trình giới thiệu sách, đặc biệt là giới thiệu tác phẩm văn học. Đôi điều người viết trình bày sau đây chỉ mang tính chất tham khảo, trên cơ sở đó, cán bộ giới thiệu sách có thể triển khai vào những tác phẩm văn học cụ thể, mục đích cuối cùng là đem lại hiệu quả cho việc tuyên truyền giới thiệu sách vốn đòi hỏi sự tận tâm, say mê và sáng tạo.

1. Xác định đối tượng tiếp nhận để lựa chọn tác phẩm văn học phù hợp và tìm ra phương pháp giới thiệu hiệu quả:

– Nghiên cứu đặc điểm đối tượng tiếp nhận: Trước khi tiến hành giới thiệu sách, ta cần nghiên cứu đối tượng tiếp nhận, trong đó lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, tâm sinh lý, trình độ nhận thức… là những yếu tố quyết định tới việc lựa chọn tác phẩm và xác định hình thức tiếp cận. Ví dụ, ta nghiên cứu đối tượng tiếp nhận là học sinh, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, thanh niên hay phụ nữ; sống trong môi trường ra sao, đời sống tinh thần và vật chất thế nào… để rút ra đặc điểm cơ bản của đối tượng, từ đó có cách tiếp cận phù hợp.

– Chọn tác phẩm văn học phù hợp với thời điểm tuyên truyền: Trong nhà trường, việc giới thiệu tác phẩm văn học thường phụ thuộc vào thời điểm học sinh đang học văn học ở giai đoạn nào thì giáo viên sẽ giới thiệu tác phẩm trong giai đoạn ấy (ví dụ như tác phẩm văn học giai đoạn 30-45, 45-75…). Đối với thư viện, cán bộ thư viện có thể giới thiệu sách theo các sự kiện diễn ra trong và ngoài nước (ví dụ ngày Đọc sách Thế giới, ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam…).

– Chọn tác phẩm văn học phù hợp với đối tượng tiếp nhận: Ví dụ, nếu là học sinh cấp 1, ta có thể chọn thể loại cổ tích, thần thoại với các chủ đề ngộ nghĩnh, gần gũi như loài vật, hiện tượng thiên nhiên, các vị thần, cô tiên, ông bụt… để kích thích trí tưởng tượng của các em. Nếu là học sinh cấp 2, ta có thể giới thiệu những cuốn sách khoa học, danh nhân, lịch sử để các em nhận thức rõ hơn về các quy luật phát triển của tự nhiên – xã hội, noi theo những hình tượng tốt trong tác phẩm văn học mà ta đã giới thiệu… Còn ở những không gian khác như thư viện, khu phố, câu lạc bộ văn thơ, các hội nhóm… thì việc chọn tác phẩm văn học phụ thuộc vào nhu cầu của đối tượng tiếp nhận hoặc chủ trương tuyên truyền của các đơn vị phụ trách phần việc đó (ví dụ đối với hội cựu chiến binh, có thể chọn sách có chủ đề chiến tranh, người lính trong thời bình; đối với hội phụ nữ, có thể chọn các tác phẩm văn, thơ về tình yêu, tình cảm gia đình để giới thiệu…). Việc lựa chọn tác phẩm phù hợp với nhu cầu, sở thích của đối tượng tiếp nhận đặc biệt quan trọng, góp phần vào sự thành công của buổi tuyên truyền giới thiệu sách.

Chọn phương pháp tuyên truyền phù hợp với đối tượng tiếp nhận: Với từng đối tượng tiếp nhận, ta sẽ có phương pháp tuyên truyền khác nhau. Ví dụ, giữa học sinh ở miền xuôi và miền ngược, ở thành thị và nông thôn, cách sử dụng ngôn ngữ, hướng truyền tải nội dung tác phẩm không thể giống nhau. Với học sinh ở nông thôn, nếu dùng những thuật ngữ công nghệ thông tin hoặc xen kẽ nhiều từ tiếng Anh để tuyên truyền sách, học sinh sẽ không hiểu trọn vẹn cách diễn đạt đó, buổi giới thiệu sách sẽ không đạt yêu cầu.

Chọn hình thức tuyên truyền phù hợp với hoàn cảnh cụ thể: Tùy theo hoàn cảnh và yêu cầu mà cán bộ thư viện hoặc giáo viên chọn cách giới thiệu trực tiếp hoặc thông qua văn bản. Trong điều kiện không thể quy tụ được một nhóm đối tượng, không đủ thời gian và thiếu không gian tuyên truyền trực tiếp, ta có thể chọn hình thức viết bài giới thiệu qua sách báo, dán trên bảng tin nhà trường, công sở hoặc những nơi công cộng.

2. Kết cấu chính của một bài giới thiệu sách

Đối với giới thiệu sách trực tiếp, ta cần vạch sẵn các ý để quá trình giới thiệu được thông suốt, không lan man, dài dòng, sa đà vào những nội dung không cần thiết. Đối với bài giới thiệu bằng văn bản, người viết cần có kết cấu rõ ràng để người đọc chỉ cần lướt qua đã nắm được nội dung bài viết. Về cơ bản, quy trình giới thiệu sách có thể chia thành 5 phần, gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần điểm nhấn và phần kết luận. Cách giới thiệu có thể linh động, sáng tạo để phù hợp với từng tác phẩm văn học, tránh sự sáo mòn, lặp lại giữa các lần giới thiệu.

– Phần mở đầu: Vào đề ngắn gọn, dễ hiểu. Nêu được mục đích ra đời của cuốn sách (cho ai, để làm gì), nêu được thông tin cơ bản nhất của cuốn sách (tên sách, tên tác giả, chủ đề tác phẩm…). Nếu là giới thiệu trực tiếp, người giới thiệu có thể vừa nói vừa giơ cuốn sách minh họa. Nếu giới thiệu qua văn bản, ngoài việc in bìa cuốn sách kèm theo bài giới thiệu, ta có thể dùng ngôn ngữ mang tính tượng hình để giúp bạn đọc hình dung ra diện mạo cuốn sách. Phần mở đầu quyết định việc độc giả có muốn nghe, đọc tiếp các phần sau hay không, nên người giới thiệu sách phải chú ý để gây ấn tượng từ thời điểm này (nếu nói thì tránh dài dòng,  không điểm nhấn; nếu viết thì tránh lan man, thiếu logic).

Ví dụ: “Càng ngày nhu cầu hiểu biết của con người càng lớn. Con người không chỉ học những gì cơ bản, hạn hẹp mà còn khát khao được tiếp cận với những điều phong phú, đẹp đẽ của thế giới, bởi quan niệm thẩm mỹ của chúng ta cũng dần dần trở nên tinh tế hơn. Những cuốn sách khoa học kỹ thuật, sách giáo khoa, tiểu thuyết, sách kỹ năng làm giàu… luôn là mối quan tâm hàng đầu của xã hội, nhưng cũng không thể phụ nhận được sức hút của những cuốn sách có chủ đề về âm nhạc, hội họa, nhiếp ảnh… đang ngày càng khẳng định vị trí của mình một cách vững chắc. Chính những cuốn sách này mang đến cho chúng một cái nhìn cởi mở, sâu sắc hơn về nghệ thuật, về cái đẹp và những giá trị tuyệt vời của cuộc sống. Nhà Xuất bản Giáo dục mong muốn đưa bạn đọc đến gần hơn với những tinh hoa của thế giới, đã cho ra đời bộ sách “Truyện kể về các danh họa thế giới” gồm 3 tập của các tác giả Ngọc Phương, Nguyệt Minh, Ngân Hà. Bộ sách này nằm trong “Tủ sách Truyện kể” cùng với rất nhiều bộ sách khác như “Truyện kể về các nhà văn Việt Nam”, “Truyện kể về thần đồng thế giới”, “Truyện kể về các nhạc sĩ thiên tài trên thế giới”… (Bài giới thiệu cuốn “Truyện kể về các danh họa trên thế giới” ).

– Phần nội dung: Nêu nội dung chính và bình luận về tác phẩm. Bình luận đôi nét về tác phẩm. Phần này thường dài hơn so với các phần còn lại, được người giới thiệu tập trung nhiều công sức nhất để có thể làm toát lên toàn bộ nội dung và ý nghĩa của tác phẩm.

Ví dụ: (1) Nhật ký chiến trường của Nhà giáo Liệt sĩ Võ Tề do NXB Giáo dục ấn hành vào những ngày thu tháng 8 năm 2006, gồm 3 phần: Phần I: Vượt Trường Sơn ra tiền tuyến; Phần II: Hoạt động trên chiến trường khu 6; Phần III: Thư của Nhà giáo, Liệt sĩ Võ Tề gửi về gia đình. Ngoài ra phần phụ lục cũng đem lại cho người đọc sự xúc động bởi những dòng tâm sự từ người thân của Nhà giáo, Liệt sĩ Võ Tề đầy yêu thương và tiếc nhớ. Những bức ảnh còn đậm nét như bóng dáng anh vẫn còn đây, không phai nhạt trong tâm trí những người đã từng sống và làm việc với anh, khắc thêm trong trái tim tuổi trẻ hôm nay một nét son về một tấm lòng và nhân cách đáng để chúng ta học tập. (Bài giới thiệu tác phẩm “Nhật ký Nhà giáo vượt Trường Sơn”). (2) Trong tập thơ, tôi thích nhất là những câu thơ quê của Nguyễn Minh Khang. Những câu thơ bình dị, nhẹ nhàng, dường như tuôn ra không cần chỉnh sửa mà vẫn không hề dễ dãi. Qua những câu thơ ấy, người đọc thấy hiện lên một miền quê thanh bình, mộc mạc, ấm áp tình người: “Miền quê tôi em có về cùng/ Ngọt lịm bờ môi hương chuối mỏng” (Hương chuối cốm). Tác giả dùng những từ rất hay để miêu tả thiên nhiên như “gió the the”, “hương chuối mỏng” khiến người đọc có thể tự do tưởng tượng ra hơi gió, hương chuối thật thân thuộc nhưng cũng rất đặc biệt. Trong “Sắn khoai, đậu đỗ, dưa cà/ Nhãng quên vị ấy ắt là mất quê” (Quà quê), tác giả dùng chữ “nhãng” thay cho chữ “lãng”, chất quê đã trở nên đậm đà hơn. Ở miền quê hương ấy, thời thơ ấu được tác giả miêu tả là một vùng tuổi thơ đẹp đẽ nhiều kỷ niệm: “Chân ngâm bùn tím màu da/ Tay khua cỏ rối cóng tà áo bông” (Mưa gió tháng ba) hay “Ta vẫn là cu Típ ngày xưa/ Ngày cắt cỏ chăn trâu đánh bi đánh đáo/ Rét căm căm lội đồng bắt con cá cóng/ Nắng chang chang bắt cua dội trên bờ” (Kỷ niệm thời thơ ấu). Và trên hết là cái tình quê thật thà, sâu đậm mà người ta khó thấy ở thành thị xô bồ: “Người quê tôi nặng tâm tư/ Người nhập cư với ngụ cư quây quần” (Quê nghèo). Bên cạnh thiên nhiên thênh thang, hình ảnh mẹ, em, người dân quê hồn hậu và cả hình ảnh của chính nhà thơ đã làm cho quê hương của tác giả nói riêng và những miền quê Việt Nam tác giả đã đặt chân đến trở nên đẹp đẽ, thơ mộng và thiêng liêng hơn… (trích một ý nhỏ trong phần nội dung của bài giới thiệu tác phẩm thơ “Dấu thời gian”).

– Phần điểm nhấn: Sau phần giới thiệu nội dung chính, người giới thiệu sách cần chọn những ý hay, ý nổi bật để tạo điểm nhấn cho tác phẩm. Trong tuyên truyền trực tiếp, phần này tương đối quan trọng, vì nó có sức hút lớn đối với người nghe. Trong văn bản, phần này sẽ khiến người đọc phải dừng lại lâu vì văn phong thú vị, lối viết cuốn hút, ý tưởng mới lạ… Nếu người giới thiệu sách biết khai thác tối đa phần này, bài giới thiệu sẽ tạo được điểm nhấn, để lại ấn tượng sâu sắc với người tiếp nhận; là yếu tố quan trọng quyết định việc độc giả sẽ tìm đọc tác phẩm đó sau khi đã nghe giới thiệu sơ bộ.

Ví dụ: “Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam” đã ký họa được cái thần không phải trên gương mặt mà trong tâm hồn các nhà văn. Họ đã đến thật gần với bạn đọc thông qua những bút tích diệu kỳ. Mỗi nét chữ đều mang trong mình một hồn vía chất chứa bao tâm sự buồn vui. Đọc chữ in, người ta chỉ có thể cảm nhận được nội dung tác phẩm, còn xem những nét bút tự tay tác giả viết thì ta có thể nắm bắt được những rung động từ đáy tâm tư họ. Tâm trạng khi đặt bút sẽ tạo nên nét bút đậm nhạt, run run, lo sợ hay cứng cỏi, vững chãi. Nhìn nét chữ, ta như cảm thấy được chạm vào quá khứ, chạm vào thời khắc tác giả đang thả hồn mình vào trang viết, chạm được vào những tâm tư của người nghệ sĩ. Nét chữ Nguyễn Bính nhỏ nhắn lành hiền. Nét chữ Thu Bồn phóng khoáng bay bổng. Nét chữ Tản Đà nghiêng nghiêng mềm mại. Nét chữ Phạm Hổ điềm đạm. Nét chữ Giang Nam thong thả. Nét chữ Nguyên Ngọc hun hút gió rừng. Nét chữ Viễn Phương như những chiếc lá non mới bật mầm trong vườn một sớm. Nét chữ Thâm Tâm rạp đều như sóng lúa. Nét chữ Hoài Thanh như những đốm nắng gieo từng giọt trên thềm nhà. Nét chữ Hoàng Trung Thông khoáng đạt hào khí. Nét chữ Võ Văn Trực ngay thẳng như cái tên của nhà văn. Chữ Hàn Mạc Tử ngẫu hứng như ánh trăng thu lúc khuất sau mây lúc lồ lộ rõ. Chữ Lê Anh Xuân mộc mạc yên bình. Nữ sĩ Mộng Tuyết lại khiến người đọc hình dung ra tư thế viết ấn mạnh ngòi bút vào trang giấy với sự chú trọng vào câu chữ hết sức tuyệt đối. Nguyễn Bùi Vợi lại mang đến một nét bút dẻo mềm như nét chữ cô gái đôi mươi viết thư cho người thương của mình. Trong khi đó Diệp Minh Tuyền lại cho ra một đôi hàng chữ to và rõ, mà mỗi con chữ giống như những quả táo xanh mới hái trên đồi. Nguyễn Đình Thi gửi trong nét bút của mình tâm hồn hào hoa của một người trai Hà Nội hừng hực lửa chiến đấu mà cũng đầy mộng mơ. Ma Văn Kháng dường như đem vào chữ của mình tiếng lá khô lạo xạo rụng trong vườn một chiều thu gió lớn. Nguyễn Thị Hồng Ngát dịu dàng, nữ tính với nét chữ mảnh mai. Nguyễn Trọng Tạo khua nét bút trên giấy hệt như mái chèo xao động trên dòng sông quê một đêm trăng sáng. Quách Tấn lại mang đến những nét bay nét múa sạch và đẹp, mướt mát như từng chiếc lá đào vừa kịp lớn trong một sớm mùa đông (Bài giới thiệu tác phẩm “Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam”).

– Phần kết luận: Phần này ta có thể tổng kết lại những vấn đề cơ bản của tác phẩm; tuy nhiên cách trình bày thu hút hơn là đưa ra câu kết độc đáo, để lại trong lòng người nghe, người đọc ấn tượng khó phai. Các thông tin cơ bản về cuốn sách như số trang, khổ sách, nhà xuất bản có thể đưa ra ở đây, nhưng cần có lồng ghép khéo léo, hợp lý, tránh kiểu liệt kê khô khan, thiếu tính văn học.

Ví dụ: (1) “Với 516 trang dày dặn, khổ 20.5×29 cm nằm gọn trong bìa sách cứng cáp in bốn màu đẹp mắt, cuốn sách đã thể hiện tấm lòng tri ân với các nhà văn Việt Nam và sự tôn trọng với những người sở hữu bộ sưu tập. Những trang giấy trắng, nền hoa văn nền nã, cách trình bày ngăn nắp, cách phối màu nhịp nhàng cộng với những bức ảnh sống động, gợi nhắc càng tôn lên giá trị của cuốn sách không chỉ về nội dung mà cả hình thức mang tính nghệ thuật cao. Sách do Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành với mong muốn đem lại cho bạn đọc nhiều bất ngờ và tin tưởng. Tập 2 sẽ xuất bản trong một ngày không xa”. (Bài giới thiệu tác phẩm “Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam”); (2) “Cuốn sách sẽ mang lại cho giáo viên và các em học sinh những thông tin, tư liệu quý giá để nâng cao tầm hiểu biết của mình về lĩnh vực hội họa, đồng thời cũng góp phần tăng hiệu quả và hứng thú dạy và học và môn học mỹ thuật trong trường học. Giáo viên và học sinh có thể xem đây là cuốn sách tham khảo bổ ích không chỉ phục vụ cho giảng dạy và học tập mà còn khiến tâm hồn ta trở nên mềm mại, bay bổng và sâu sắc. Sách do Nhà Xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 2009, khổ 13×20.5cm, trình bày đẹp mắt… là ấn phẩm mà bạn đọc nên có trong tủ sách gia đình mình”. (Bài giới thiệu sách “Câu chuyện danh họa”).

3. Một số lưu ý đối với cán bộ tuyên truyền, giới thiệu sách

Có kiến thức tổng hợp về văn học để khái quát được bối cảnh ra đời tác phẩm, giúp người nghe không chỉ hiểu về tác phẩm mình đang giới thiệu mà hiểu thêm cả đặc điểm xã hội, xu hướng sáng tác của các tác giả trong thời điểm đó.

Nghiên cứu kỹ tác phẩm trước khi tiến hành giới thiệu (thể loại, nội dung tác phẩm, thân thế – sự nghiệp tác giả, ý nghĩa tác phẩm…) để có sự truyền đạt chính xác nhất thông qua phong thái tự tin, ngôn ngữ lưu loát nếu tuyên truyền bằng lời nói; để có bài viết khoa học, dễ hiểu, logic nếu sử dụng hình thích giới thiệu sách bằng văn bản.

Đọc và tìm hiểu những thông tin liên quan với tác phẩm, tác giả, sự kiện trong tác phẩm… để trong quá trình giới thiệu có thể lấy dẫn chứng sinh động, mở rộng, tạo sự liên tưởng, kết nối (giữa tác phẩm này với tác phẩm khác, tác giả chính với các tác giả cùng thời hoặc cùng phong cách sáng tác,…) tạo tâm lý thoải mái, dễ chịu cho người tiếp nhận, khiến họ có cảm giác đang được thưởng thức chứ không bị áp đặt.

Tuân thủ quy tắc trong việc sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Không dùng từ địa phương, điều tiết âm lượng hợp lý, tạo sự tương tác đối với người nghe… khi giới thiệu trực tiếp. Sử dụng văn phong dễ hiểu, ý tứ logic, độ dài vừa phải, bố cục khoa học… khi giới thiệu bằng văn bản.

Sử dụng phương tiện phụ trợ (hình ảnh, âm thanh, âm nhạc…) nếu cần. Tuy nhiên, không để những chi tiết vụn vặt hoặc giáo cụ minh họa át nội dung chính cần truyền tải, chi phối việc giới thiệu tác phẩm chính.

– Tạo hứng thú cho độc giả tìm đọc tác phẩm nguyên gốc chính là thành công của người giới thiệu sách. Cần có sự gợi mở, nêu được ý hay, ý lạ nhưng không phân tích quá sâu tác phẩm; không đọc hộ độc giả, để họ cảm thấy muốn tiếp tục khám phá và tự chiêm nghiệm tác phẩm đó bằng những cảm nhận của riêng mình.

——–

Tất cả các tác phẩm minh họa trong bài đều là sách do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành, trích từ những bài giới thiệu sách do tác giả viết đã được đăng trên Tạp chí Sách và Thư viện trường học.

Published in: on 28/11/2017 at 2:11 Chiều  Gửi bình luận  

Tóp mỡ

Tối mùa đông rán tóp mỡ

Mùi tuổi thơ lan tỏa khắp nhà

____

Nhớ ngày nhỏ nhà tôi hay có cảnh ăn cơm với tóp mỡ ngâm nước mắm hoặc canh dưa chua nấu tóp mỡ. Tối nay, khi tôi đang rán mỡ (lâu lắm mới biết đến việc rán mỡ), rồi đổ tóp ra bát thì anh chạy lại nhón tay lấy một miếng cho lên miệng và nhắc lại kỷ niệm ngày xưa. Vậy là nhờ rán mỡ mà tôi biết trong ký ức của cả tôi và anh đều từng có những miếng tóp mỡ tuổi thơ vàng ngậy thơm mùi no ấm. 

Published in: on 27/11/2017 at 8:41 Chiều  Comments (10)  

Chuyện ba người

Trong cơn gió đông mới trở lại, tôi đi dạo quanh nhà rồi thấy cảnh này:

“Một người đi với một người

Một người đi với nụ cười hắt hiu

Hai người vui biết bao nhiêu

Một người lặng lẽ buồn thiu đứng nhìn”

Published in: on 19/11/2017 at 6:22 Chiều  Gửi bình luận  

Start up

Không hiểu đang làm gì đây? Bỗng dưng một lô người quen đặt vẽ và đòi cả mua tranh của tên vẽ vườn ngô nghê.

Một set mười mấy tấm em Phương đề nghị đang được tiến hành, vừa bắt đầu hôm qua. Nháp vài cái đã. Theo cách decor cho căn nhà của vợ chồng trẻ với nền tường sáng và khung tranh đen. Vài nét nguệch ngoạc như trẻ con. Simple is best, tiêu chí cho set này.

Published in: on 18/11/2017 at 10:21 Chiều  Comments (7)  

From my hands

Ngẫu hứng chụp lại một số tranh trên page Winlinh mà tôi đã vẽ vơ vẩn bao lâu nay. Luôn nói với mình rằng tài năng không phải ai cũng có, nhưng nếu có ham mê (chưa cần phải là đam mê) thì mỗi ngày làm một chút mình cũng sẽ có một thứ gì đó lưu dấu. 

Đẹp thì chưa tới, nhưng ít nhất đã tới được với những vui thích trẻ trung. Dám làm dù ít ỏi tài năng có lẽ ý nghĩa hơn việc chỉ làm khi biết mình sẽ được công nhận. 

Làm vì mình muốn chắc chắn tốt hơn làm chỉ để được khen. 

Published in: on 16/11/2017 at 9:13 Chiều  Gửi bình luận  

The change

Lại một cái new mobile phone theme. Cũng như cuộc sống rất nhiều lúc cần sự thay đổi. Lúc thay đổi vì muốn, lúc vì ngẫu nhiên, lúc vì không thể khác…

Như đêm qua tôi nói với một cô em đang ở ngã ba đường rằng:

Việc chia tay người đó, nếu có, hãy đừng để bị tác động bởi người thứ ba, mà tự bản thân mình cảm thấy cần chia tay trước hết, dù lúc ấy có người đàn ông nào đang giang tay ra với mình hay không. Vì nếu lấy hy vọng ở người đàn ông này để cứu vãn cho thất vọng từ người đàn ông khác, có thể sẽ gặp tiếp những thất vọng còn tệ hại hơn… 

Published in: on 15/11/2017 at 7:01 Chiều  Gửi bình luận  

Bé li ti

Trong một buổi đi dạo của một ngày cuối tuần nào đó tháng mười, tôi đã chụp bằng điện thoại vài tấm ảnh những bông hoa đồng nội bé nhỏ. Hồn nhiên, khiêm nhường và xinh xắn biết bao nhiêu.

Published in: on 12/11/2017 at 6:34 Chiều  Comments (1)  

Nhìn lại

Anh về bên đấy, em ở bên đây

Tình anh anh giữ, tình em em cầm”

Published in: on 11/11/2017 at 11:07 Chiều  Comments (2)  

Chiếc khăn gió ấm 

Hôm nay chợt nhớ cái drive của td@…net đã lâu không vào. Vào thì thấy lại bài này đang nằm lặng lẽ trong folder Muzik, phần hát mộc. Là một beat ngắn thế thôi và tôi đã hát vu vơ trong một ngày nào đó ở KTX 2015. Nằm lười không muốn mở laptop làm clip nên thao tác điện thoại unpro luôn để cho lên youtube lưu lại ngay lúc này.

Published in: on 10/11/2017 at 10:37 Chiều  Gửi bình luận  

My voice

Một hình thức clip mới, giản đơn chỉ một hình thôi. Thỉnh thoảng có thời gian là làm lại mấy bài cũ vì ngày xưa làm clip nhiều ảnh lộn xộn quá!

Published in: on 02/11/2017 at 6:27 Chiều  Comments (4)  

Nhắc nhớ

Fb vừa nhắc ngày này năm xưa, 2/11/2016. Hôm đó mình đang đứng với lớp đợi giờ vào học buổi chiều của cô Hải. Gió se se, tiết trời dìu dịu. Rỗi rãi nên chụp bản thân một kiểu cho vui. Nhớ mấy hôm sau Quân còn vào inbox khen ảnh đẹp trong khi anh Trường lại msg chê môi sao nhợt nhạt.

Một năm trôi qua, kỳ học 2.5 năm đã kết thúc an toàn, như mơ ước. Công việc khi đi làm trở lại cũng yên ổn. Đôi khi có công cụ công nghệ như fb hay google photo nhắc cho mình nhớ những điều đã từng có trong đời, thật vô cùng ý nghĩa. Nhớ lại được mình từng ở đâu, làm gì, cảm xúc như thế nào… Như được sống lại lần nữa vậy.

Published in: on 01/11/2017 at 9:31 Chiều  Comments (2)  

;)

Một chút văn chương của bạn mình

Published in: on 01/11/2017 at 8:12 Chiều  Gửi bình luận