







https://heritagevietnamairlines.com/noi-dai-ngan-khoang-dat/

https://heritagevietnamairlines.com/nhon-nhip-cang-ca-ngu-phu-yen/




Hôm nay tôi cùng mọi người đi hội chợ rau củ và cây hoa. Đồ khá ngon và rẻ. Nắng vàng óng tươi giòn, tôi chả che chắn gì cứ chang nắng thế, sắp thành da nâu rồi.
Cuộc đời rất rất nhiều điều bất ngờ xảy ra, không bao giờ ta kiểm soát nổi. Vui đấy rồi lại buồn ngay đấy. Nỗi buồn ào tới như những cơn sóng gầm, và ta bị nhấn chìm nghỉm trong nó, không thể vùng vẫy, tưởng chẳng thể sống sót.
Ấy thế mà, bằng cách nào đó, thật kỳ lạ, hay thật tất yếu, ta vẫn tiếp tục tồn tại. Đi qua cơn sóng buồn, dù hoang tàn xác xơ, ta vẫn sống tốt và sống vui. Dẫu biết một lúc nào đó cơn sóng buồn sẽ bất ngờ xô tới, ta vẫn cứ quên hết để vui tươi như không còn bất cứ nỗi buồn nào có thể làm ta chao đảo nữa.
Và đời cứ thế… chực chờ những con sóng dữ dội bất ngờ… Và ta cứ thế, vật lộn gắng gượng lẫn hồn nhiên ngơ ngác để đứng vững. Rồi đôi khi tự hỏi, ta đã thoát khỏi những u tối hiểm nguy ấy bằng cách nào.

Vào mùa hè, khi vạn vật bung nở tươi tắn dưới nắng trời, khi đồi núi thênh thang xong xuôi mùa vụ, người Lô Lô lại nghĩ tới việc tổ chức lễ rửa làng của dân tộc mình. Độc đáo không chỉ bởi đó là một lễ cúng có cái tên khác biệt, mà còn bởi ba năm nó mới lặp lại một lần. Ba năm, hơn 1.000 ngày, người dân mới được làm lễ cúng ấy, trong một ngày đẹp trời mà họ đã cùng nhau họp bàn để chọn ra…
Dân tộc Lô Lô là một trong những dân tộc thiểu số có dân số ít nhất tại Việt Nam, cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Tuy nhiên, không vì thế mà đồng bào nơi đây thiếu vắng bề dày văn hóa so với những tộc người đông đúc người khác. Người Lô Lô thường sống tập trung trong các bản làng cố định nên có tính cộng đồng rất rõ nét.
Họ cùng nhau sáng tạo ra nhiều phong tục đặc sắc cho riêng tộc người mình để ghi dấu bản sắc riêng trên vùng núi cao hoang sơ nắng gió. Ngoài những lúc làm lụng vất vả chăm chỉ, họ lại quây quần bên nhau để cùng nhau thực hiện những nghi thức cổ truyền nhằm nhắc nhau nhớ về nguồn cội và cùng nhau hướng đến những ước vọng tốt lành trong đời sống. Bên cạnh những ngày lễ tiêu biểu như lễ nhảy cây, lễ cầu mưa, lễ thờ thần đá, thì người dân Lô Lô còn có lễ rửa làng rất độc đáo, thú vị.
Lễ rửa làng còn có tên gọi là lễ mừng ngô mới, bắt nguồn từ nhận thức của người dân rằng không gian sinh sống của họ phải được “làm sạch”, “tẩy rửa” theo định kỳ để không còn những bụi bặm, đen đủi, tà ma quấy phá. Theo thông lệ, cứ ba năm một, vào thời điểm tháng 5 hoặc tháng 6 âm lịch, người Lô Lô ngồi lại cùng nhau chọn ngày tổ chức lễ rửa làng, thống nhất việc mời thầy cúng và phân công mọi người sắm sanh đồ lễ.
Một ngày trước khi tổ chức lễ rửa làng, người dân chuẩn bị lễ để xin các thầy cúng tiền bối gồm thẻ hương, chén nước, giấy trúc và con gà trống. Vào tối ngày hôm trước tại nhà thầy cúng, thầy cúng sẽ thắp hương rồi đặt giấy trúc và chén nước xuống góc nhà để khấn xin. Khi thầy cúng bọc tờ giấy trúc lên chén nước mà nước trong chén không bị thấm hoặc đổ ra ngoài thì lễ xin rửa làng đã linh nghiệm, báo hiệu việc cúng rửa làng sẽ thành công. Kết thúc lễ xin, ông thầy đốt tờ giấy trúc để hoàn tất thủ tục cúng.
Đoàn người thực hiện lễ cúng vào ngày hôm sau gồm có một thầy cúng chính, một thầy cúng phụ và một số nam giới trong làng đi theo hỗ trợ. Đoàn người cúng sẽ cùng nhau đi khắp các nhà, suốt các hang cùng ngõ hẻm trong làng bản, vừa đi vừa gõ chiêng trống rộn ràng nhằm đánh thức những điều đẹp đẽ ngủ quên và xua đi những rủi ro ám ảnh. Theo tiếng chiêng trống vang động, tà khí sẽ sợ hãi mà trốn xa. Đi theo đoàn người sẽ là các đồ lễ gồm hai con dê (được cho là có mùi đặc trưng để xua đuổi tà ma), một con gà trống trắng, rượu ngô, hạt ngô, cỏ, kiếm gỗ, kiếm sắt, ba cành lau, ba cành đào, ba cành mận, miếng vải đỏ, đôi sừng trâu và cây tre to. Cây tre dài trước đó đã được đục miệng ở đoạn giữa và đổ đầy đất vào sau đó cắm hình nhân bằng giấy màu (được cắt theo kiểu đang giơ tay lên van xin, thể hiện cho sự sợ hãi của các hồn ma với người dân) rồi cắm hương theo từng hàng dọc ở giữa cây tre giả làm con ngựa.
Trên hành trình đi quanh làng bản, sẽ có hai người dắt hai con dê. Những người còn lại, người thì vác cây tre giả hình ngựa; người quấy hạt ngô; người xách gà trống trắng cùng các cành đào, mận, lau, vải đỏ… theo sau thầy cúng đi vào từng nhà dân. Thầy cúng sẽ cất lời xua đuổi tà ma, dậm chân và rắc ngô khắp các xó nhà rồi lấy hai mảnh gỗ biểu hiện cho âm – dương ra tung lên xem quẻ để xem còn hồn ma nào vất vưởng trong nhà nữa không. Nếu quẻ gieo chưa thành công (cả hai mảnh gỗ cùng sấp hoặc cùng ngửa), thầy cúng lại phun nước, phun rượu để đuổi tiếp, cho đến khi nào quẻ lật một sấp một ngửa mới thôi. Tới nhà nào, gia chủ nơi đó phải chuẩn bị sẵn hình nhân cùng hai bó củi và hai bó có để ngầm bồi dưỡng công xua đuổi tà ma cho thầy cúng với thái độ cung kính, thành khẩn.
Sau khi kết thúc hành trình xua đuổi tà ma ở từng nhà dân trong bản, mọi người sẽ tụ tập ở một bãi đất rộng chứng kiến cảnh hai con dê bị đánh để bẩm báo với trời rằng người Lô Lô đã xong lễ cúng. Theo quan niệm của người dân, con dê bị đánh càng đau sẽ càng kêu to khiến ông trời thấu rõ ước vọng của họ để ban phước lành về mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhà nhà khỏe mạnh.
Xong buổi lễ, mọi người thấy nhẹ nhõm hơn vì tin tưởng vào một tương lai tươi sáng phía trước, làng bản từ nay sẽ phong quang, sạch sẽ và mọi việc sẽ đều thuận lợi, may mắn. Các cô gái trong bản nhân dịp này được diện những bộ váy áo đẹp được thêu thùa cầu kỳ, trên đầu đội những chiếc khăn điệu đà làm dáng, túm tụm bên nhau vui vẻ nói cười. Các chàng trai hào sảng phấn khởi lớn giọng chúc tục nhau chén rượu nồng thơm. Các cụ ông, cụ bà anh ánh nét cười nhìn con cháu vui vầy xum họp. Mọi người hoan hỉ ăn hết sạch thịt, uống hết rượu rồi mới ai về nhà nấy, bắt đầu ba năm yên ổn sinh sống và làm ăn. Sau lễ cúng, phải 9 ngày sau người lạ mới được bước vào làng vì người Lô Lô cho rằng nếu để người lạ đến, tà ma lại sẽ theo vào và như vậy là lễ không thiêng nữa. Nếu chẳng may có người lạ vào làng, người đó phải sửa soạn lễ vật để cúng lại, bù vào lễ cúng đã bị họ làm mất thiêng.
Với những nghi thức độc đáo như trên, lễ rửa làng của đồng bào Lô Lô được coi là tín ngưỡng dân gian và nét đẹp truyền thống góp phần làm giàu có thêm cho bản sắc của cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam.
https://heritagevietnamairlines.com/le-rua-lang-cua-nguoi-lo-lo/
Vậy là đã gần xong bìa cuốn sách 2. Hiện cái tựa sách cũng khiến mình hơi phân vân một chút. Tranh bìa mình vẽ trong một buổi tối, vẫn rất rất trẻ con và đơn sơ. Tên sách thì không lạ như tên cuốn đầu. Tuy nhiên mình lại thấy dễ chịu khi nhìn bìa sách với cái tên bình thường đó. Một cái tên bình thường lắm. Nhưng mình chọn vì nó đem đến một cảm giác khiêm nhường, an yên. Nó gợi nhắc ta quay về với những điều nhỏ bé và trong trẻo. Có thể lúc nào đó mình sẽ thay tên khác nếu nghĩ ra tên nào ổn hơn. Chưa biết được. Nhưng hòm hòm được cái bìa thì cảm giác đã đi được hơn 1/3 chặng đường. Dự định tầm tháng 4 sẽ xong xuôi để tháng 5 ra sách. Viết vài dòng để lưu lại mà nhớ là đoạn này mình đang làm bản thảo ra sao.
“CHUYỆN ĐÃ CŨ CỨ THONG DONG MÀ CŨ ” – CUỐN SÁCH ĐỂ LẠI TRONG TÔI NHIỀU SUY NGẪM
Tôi vô cùng bất ngờ với hai trăm năm mươi lăm trang sách, gồm những dòng chữ và hình ảnh minh họa đều do tác giả tự vẽ, phần trình bày của nhà xuất bản. Sách được nhà xuất bản Thế giới ấn hành quý 4 năm 2021.
Tại sao tôi có được cuốn sách này ư ? Cũng bởi lẽ, trước tiên tôi là người muốn được đọc ở người khác, và cái mong muốn đó đã được đáp ứng từ sự mến mộ tác giả. Chị là Winlinh – tên thật là Phạm Thùy Dung. Tôi không nắm được (trích ngang) của chị, chỉ biết rằng hình như chị đang sống và làm việc ở nước ngoài thì phải. Qua thân phụ của chị – nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Phạm Công Thắng, tôi được biết, chị không muốn nói rằng những câu từ trong cuốn sách này là thơ.
Quả có phần chính xác, bởi toàn bộ cuốn sách không có đầu đề một bài thơ! Những lời như là tự sự mà cũng như muốn tâm tình, nhắn gửi tới độc giả từ trái tim của tác giả. Có phải đây là sự chắt lọc “kinh nghiệm” từ bản thân chăng ? Nếu không thì cũng là xuất phát từ một tâm hồn trong sáng, tác giả mở hẳn cánh cửa của mình ra, để giao thoa cùng với cái đời sống đầy thi vị, nhưng cũng vô cùng chông gai trên thế gian này :
…….
“Tôi đem giặt giũ nỗi buồn
Vắt khô phơi trong sân nhỏ
………
Buồn rơi từng mảnh trên sân!
…….
Tự mình bào chế thuốc
Để chữa lành vết thương”
Tôi không phải người của phái đạo nào cả, không chuyên sâu về Phật pháp. Nhưng phần lớn ngôn từ trong cuốn sách, đã làm tôi có cảm giác đây là một cuốn sách (Thiền) bởi, nó mở ra cho con người ta tấm lòng nhẹ nhõm, bao dung. Từng lời nói ta như bừng tỉnh sau giấc ngủ, đánh thức ta qua những cơn mê, giúp ta quẳng bớt đi cái gánh nặng đời thường mà thong dong mà bước đi trong thực tại.
………
Nếu thấy lòng nhoi nhói chút đơn côi
Mở nhạc lên cho mình thong dong lại”
Thực tế đời sống không đơn giản như lời nói, nhưng để vượt qua gian khó và thoát lên bằng chính lời nói đó, thì quả là vô cùng cần thiết ở nghị lực của mỗi một con người :
…….
“Nhìn đời ở góc lạc quan
Cho lòng an nhiên nhẹ nhõm
……
Mọi việc sẽ dễ dàng hơn”
Thưa các bạn, sách vở và đời sống là những điều luôn ngụp lặn vào nhau, đan chéo giữa tình cảm và lý trí, giữa lý thuyết và thực hành, nó thật rộng lớn, rộng lớn tới mênh mông và đến vô cùng..! Và, để có được sự cân bằng, quả là điều không hề dễ dàng chút nào! Ấy vậy mà gần như xuyên suốt cuốn sách, Winlinh đã tạo ra sự khoan thai đến kỳ lạ . Đọc những điều chị viết ta cảm nhận thấy có một người bạn đang nâng đỡ ta, đang san sẻ bớt những lo toan nhọc nhằn trên đôi vai ta !
Lật từng trang sách, từ đầu tới trang cuối cùng, tôi nhận thấy ở gần cuối tập sách, là phần có thể nói rằng: chất thơ đã đan cài, phủ từng lớp pho mát ngọt ngào trong chiếc bánh Pizza mà ta vẫn từng nghe nói, qua ẩm thực của những xứ sở thanh bình :
………
“Tháng bảy hướng dương vàng ruộm
Phi Yến mong manh gió về
Xà cừ cánh bé li ti
Hoa sấu rụng thềm trắng muốt..”
Rõ ràng đất trời đã mang đến cho đời sống những sản vật mà chỉ có con người, và cũng chỉ có những con người nhìn thấy từ sự tích cực trong cuộc sống mà thôi.
Tuy thế tác giả cũng là một con người bằng xương bằng thịt, cũng biết tận cùng hạnh phúc và đớn đau. Chị không bị lún sâu vào những sự giáo điều sáo rỗng, để mà thốt ra phần hồn của đời sống con người – thơ:
……
“Thế là đắng, thế là cay
Thế là em nói chia tay… như đùa
Thế là vắng, thế là thưa
Thế là tôi mới như vừa chết đi
……
Tết này mẹ chẳng têm trầu
Bởi em thôi muốn làm dâu bên này …”
Và rồi tình yêu là điều không khác gì cơm ăn nước uống của đời sống con người :
……
Khi anh ngồi đó uống những ngụm vang
Là đang uống em với những nồng nàn kỷ niệm…”
Thưa các bạn, tôi không phải một nhà phê bình, nên khó có thể viết nên những điều cần viết. Càng không thể cảm nhận hết về những điều mà tác giả đã xây dựng nên cuốn sách này. Nhưng, tôi dám đảm bảo chắc chắn rằng: Nếu ai có được cuốn sách sẽ là điều may mắn như tôi! – Chúng ta sẽ có được một tâm thế thư thái, có thể nói như nguồn protein cần cho cơ thể của mỗi con người. Chúc các bạn sớm có được cuốn sách này!
Xin cảm ơn tác giả Winlinh – Phạm Thùy Dung, đã hào phóng cho tôi một phần từ nguồn năng lượng được chị gợi mở qua cuốn sách này! Chúc chị thành công và hạnh phúc!
Trần Kích – Thanh Hóa 28/02/2022

Người ta thường nói, điều giản dị và thuần khiết nhất chính là điều đẹp đẽ và bền bỉ nhất. Ý nghĩ ấy đã khởi lên trong tôi khi tôi được đặt chân tới làng Thổ Hà vào một ngày nắng trong và gió nhẹ.
Thổ Hà thuộc địa phận xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, là một ngôi làng cổ thuần Việt mang nhiều nét đặc trưng truyền thống của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Vẻ rêu phong, cổ kính của cảnh sắc và quần thể kiến trúc cũng như sự thuần hậu, mộc mạc của người dân Thổ Hà đã để lại trong lòng tôi ấn tượng khó phai.
Với địa thế ba mặt được bao bọc bởi dòng sông Cầu và một mặt tựa mình vào đồi núi thấp, Thổ Hà được hưởng trọn sự nuôi dưỡng hiền hòa của thiên nhiên. Phương tiện đi lại chính của người dân nơi đây là thuyền đò (tập trung ở ba bến đò là Bến Chùa, Bến Dưới và Bến Trên) khiến Thổ Hà như một ốc đảo tách biệt với những xô bồ bên ngoài. Hình ảnh dòng sông Cầu thơ mộng với hàng tóc si ngả mình soi bóng nước hay những dáng đa cổ thụ nằm trầm lặng bên ngôi đền cổ được xem là biểu tượng cho sự bình yên mà người Thổ Hà đã gìn giữ suốt bao năm. Và họ cứ thế, giản dị vui buồn sống một đời thanh đạm, chuyên tâm làm nghề truyền thống bên con sông hiền hòa chảy bền bỉ theo tháng năm.
Bước quanh co theo những lối đi đỏ nâu màu gạch xưa, ta có thể thư thả ngắm nhìn nắng chiếu trên những mái ngói lún phún rêu phong hay lá hoa la đà ngoài sân, trước ngõ. Lòng chợt lắng lại khi bước vào một gian chùa cổ, thấy như được gột rửa khỏi bụi bặm cuộc đời. Ngước nhìn những mái đình cong cong đượm màu mưa nắng, tâm trí trở nên nhẹ nhõm hơn. Ta được ngắm từng mảng gạch nung, tiểu sành, mảnh gốm trát trên cổng làng, miếu làng, giếng cổ hoặc những bức tường nhà gợi nhắc một thời vang bóng của làng gốm Thổ Hà xưa. Dừng chân tại Đình Thổ Hà, Chùa Đoan Minh và Từ chỉ Thổ Hà (đã được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia), ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nơi đây lưu giữ nhiều bia đá, đồ thờ, hoành phi, câu đối rất cổ và quý hiếm, xứng đáng là một trong những nơi tiêu biểu cho không gian văn hóa, tâm linh truyền thống của người Việt vùng châu thổ sông Hồng.
Vì đặc trưng là vùng sông nước, nên người dân Thổ Hà trước kia chủ yếu sống bằng nghề làm gốm cổ truyền. Đây là một trong ba trung tâm sản xuất gốm cổ xưa nhất của người Việt bên cạnh làng gốm Phù Lãng và Bát Tràng. Gốm Thổ Hà từng được ưa chuộng bởi kỹ thuật nung đốt khiến màu men nâu đỏ sẫm rất đanh, độ sành cao, tiếng kêu vang lảnh và không bị thấm nước. Nghề gốm đã giúp người dân tạo dựng nên một quần thể kiến trúc tâm linh và văn hóa độc đáo. Trong các đình chùa hiện còn lưu giữ nhiều sản phẩm gốm của những người thợ gốm Thổ Hà xưa với các bát hương, chĩnh, ang… cổ. Các vách tường nhà, đường làng và hàng rào cũng còn lưu những mảnh chum, vại trải bao nắng gió vẫn sống mãi với thời gian. Tuy giờ nghề làm gốm sứ gần như không còn, nhưng những sản phẩm gốm sứ do người Thổ Hà làm ra vẫn là chứng tích cho thấy nơi đây từng là thương cảng gốm sứ tấp nập của vùng Kinh Bắc “vang bóng một thời”.
Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc, Thổ Hà còn nổi tiếng với nghề làm bánh đa và mỳ gạo. Bánh đa nem Thổ Hà có màu trắng dịu, mềm dẻo và khi đem cuộn rồi rán lên sẽ ra thứ nem giòn mà không vỡ. Mì gạo Thổ Hà cũng nổi tiếng khắp xa gần bởi độ dẻo dai, thơm ngon. Chưa kể đến món bánh đa vừng, bánh đa dừa nức tiếng xa gần bởi vị bùi, ngọt và ngậy. Điểm đặc biệt trong cách phơi bánh của người Thổ Hà là phơi gió chứ không phải phơi nắng nên vỏ dai và dễ cuốn. Bột gạo làm bánh là loại gạo tẻ nguyên chất, được người dân xay thủ công bằng cối đá để tạo độ kết dính chuẩn mực. Du khách khi rời Thổ Hà thường mua những tấm bánh đa, những xách mì gạo đơn sơ về làm quà. Và không quên mang theo vài cút rượu làng Vân thơm vương vít khi xuôi dòng sông Cầu tạm biệt. Chợt nghe ai đó đọc đôi câu của nhà thơ Phan Vũ: “Rượu làng Vân lung linh men ngọt/Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa/Những chàng trai say suốt cả mùa”…
Thổ Hà cũng là vùng đất tươi đẹp và bay bổng với các lễ hội truyền thống đa dạng sắc màu. Khi con chim én gọi xuân về, nơi đây sẽ náo nức tổ chức các lễ hội du xuân, trong đó có lễ hội Thổ Hà, Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Du khách sẽ được đắm mình trong những làn điệu quan họ liền anh, liền chị quyến luyến lòng người; được hát đối quan họ trên con thuyền trôi lững thững giữa dòng sông Cầu; được hòa mình tươi trẻ vào các trò chơi dân gian chơi đu, chọi gà, vật, đánh cờ bỏi, thi bơi bắt vịt… Chẳng thế mà Thổ Hà từng được vua Tự Đức ban tặng cho bốn chữ: “Mỹ tục khả phong”, ghi nhận đây là nơi có nhiều phong tục tập quán đẹp, đáng để các nơi hướng về, học hỏi.
Với những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của một vùng quê đậm đà bản sắc, làng cổ Thổ Hà là điểm đến ý nghĩa với những ai muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về nét đẹp trong đời sống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Đến và cảm nhận, để thấy hồn Việt lẩn khuất trong từng thớ đất hiền xưa cũ, trong từng mái ngói rêu phong nhuốm đầy ký ức tháng năm, trong từng nhịp khua chèo thong thả trên sông Cầu thơ mộng. Người đi xa vương vấn chốn bình yên, không khỏi chạnh lòng nhớ tới câu thơ của Đồng Đức Bốn dành tặng sông Cầu: “Anh xa để lạnh đôi bờ/Đò em cứ chảy lơ thơ giữa dòng/Đừng buông giọt mắt xuống sông/Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”.


Heritage tháng 1/2022
https://heritagevietnamairlines.com/ve-tho-ha-ngam-bong-nang-lay-duoi-coi-si-gia/
Tôi gặp Đỗ Bảo, nhạc sĩ của những bức thư tình, trong một chiều mùa đông tĩnh lặng, khi cơn rét năm nay chừng như đến muộn. Bên ly cà phê tỏa thơm thong thả, như bao lần, tôi lại được nghe anh chia sẻ nhiều điều thẳm sâu về âm nhạc và cuộc đời. Những chia sẻ mộc mạc, khiêm nhường ấy càng làm đầy thêm trong tôi cảm nhận đẹp đẽ về anh, như khi xưa tôi từng nhìn anh từ phía xa, đơn thuần qua âm nhạc, bằng con mắt tươi non tuổi trẻ.
Với tôi và hẳn là với nhiều người, âm nhạc Đỗ Bảo có những nét độc đáo riêng không thể nhòa lẫn, hàm chứa những triết lý nhân sinh giản dị mà sâu sắc. Ai đã nghe đủ lâu, từ “Cánh cung” (2002), “Thời gian để yêu” (2008) tới “Chuyện của mặt trời, chuyện của chúng ta” (2013) và cùng đi qua những tháng năm sôi nổi của ban nhạc Sao Mai (thành lập năm 1993) hay say mê “Nhật thực” (hòa âm phối khí của Đỗ Bảo)… sẽ hiểu rõ cá tính âm nhạc của người nghệ sĩ này. Đó là thứ âm nhạc chất chứa nhiều nghĩ suy, trăn trở về tình yêu, nỗi niềm và thân phận con người. Ngôn từ đa dạng nên thơ, giai điệu thanh tân lôi cuốn, đủ sức khắc họa được tâm tư, tình cảm lắng sâu qua từng chi tiết ít người để tâm nhìn ra được. Bởi vậy, nhạc anh không dễ hát, nó cần người cất giọng phải có sự thấu cảm để không làm vụn vỡ những điều ý nhị mà anh tinh tế gửi gắm vào.
Âm nhạc Đỗ Bảo đã giúp nhiều người đi qua nỗi buồn nhẹ nhàng hơn giữa “muôn khắc thời gian xếp nên đời ta”. Bởi dẫu nỗi buồn có “dậy sóng những dòng sông” thì còn đó “mùa cây trổ lá”, “dù buồn hay vui dù nắng hay mưa em vẫn có một thế giới của riêng mình để ngắm nhìn và mê say”. Buồn của sự tự ý thức, tự thấu rõ “biết buồn như đã, biết khổ đau như đã”. Dù hiểu “từ lâu người vẫn vô tình với nhau” nhưng vẫn “cám ơn đời mang anh đến điều ngọt ngào nhất trên đời”. Dù chia tay, nhưng vẫn sống trọn phút giây hiện tại: “Hãy nói mình yêu nhau một lần cuối, rồi cho những khoảng trời hạnh phúc nhạt nhòa đôi tay níu giữ”. Ở hình dung tôi, những người yêu nhau trong nhạc anh đều ân cần tử tế. Họ luôn dành cho nhau thái độ nâng niu, dịu dàng dù đang là hiện tại hay đã thành ký ức của nhau. Nghĩ cho nhau ngay cả khi xa nhau: “Mai xa nhau, anh nguyện làm ánh nắng mùa
thu rơi”. Biết ơn kỷ niệm: “Nhìn theo đường hun hút còn xa, xin cám ơn những điều đã qua”. Tôn trọng quá khứ của nhau vì hiểu hiện tại là quan trọng nhất: “Chẳng cần biết dĩ vãng xưa cũ anh đã yêu người, chẳng cần biết em đã bên ai ngày xa xôi. Một ngày mới, ta biết sâu kín nơi trái tim mình, tình yêu ở đó, lấp lánh ánh trăng đầy, tình yêu ở đó, sẽ mãi cùng tháng năm”.
Nói về quá trình sáng tác một bài hát, Đỗ Bảo nhắc tới từ “ấp ủ”. Để ra đời được một tác phẩm, người nhạc sĩ phải có một quá trình ấp ủ đủ chín, đủ thấm nhuần. Ý tưởng sẽ nảy sinh khi nhạc sĩ gặp được điều mình tâm đắc, và ý tưởng đó như là hạt giống gieo xuống rồi được nuôi dưỡng để bài hát được nảy mầm, đơm hoa. Có những bài anh phải ấp ủ hàng năm như “Những mùa đông yêu dấu” hay “Điều hoang đường nhất”. Vì được ủ rất kỹ, đã thấm nhuần trong tư duy, nên khi chúng ra đời, anh không còn phải phân vân hay nghi ngại gì thêm nữa. Song vẫn có những bài anh viết rất nhanh như “Thời gian để yêu”, giống như quá trình ấp ủ đã mơ hồ, nằm trong tiềm thức từ bao giờ. Và vào thời khắc đó, bỗng một cánh cửa mở ra, anh nắm bắt lấy rồi hoàn thành bài hát chỉ trong vài ngày.
Tôi hỏi anh về những thứ khác ngoài âm nhạc, anh cười “khi không làm nhạc thì tất cả với anh đều là nghỉ”. Đó là ý nghĩ của một người lao động nghệ thuật nghiêm túc và đam mê với nghề, vì chỉ khi đắm chìm trong âm nhạc, anh mới thực sự được là chính mình theo nghĩa trọn vẹn nhất. Trong rất nhiều năm, qua rất nhiều đêm, anh lặng lẽ lao động và tự kiểm duyệt âm nhạc của chính mình để từng sản phẩm khi ra đời đều xứng đáng có một đời sống bền bỉ riêng. Anh cho rằng, người nghệ sỹ lao động nghệ thuật trước hết để thỏa mãn mình, đồng thời dùng nghệ thuật làm phương tiện biểu đạt suy nghĩ và tiếp cận gần với đời. Vì cuộc sống đâu chỉ đơn giản là tồn tại, mà còn là sự trải nghiệm của những cung bậc cảm xúc khác nhau. Và nhu cầu chia sẻ, cống hiến của người nghệ sỹ với cuộc đời có bao giờ vơi cạn.
Về chủ đề nỗi niềm và thân phận con người, anh chia sẻ: Bất cứ tác giả nào lao động nghệ thuật đủ lâu, có sự trưởng thành trong sáng tác thì ít nhiều đều có sự quan tâm, trăn trở về nó. Bởi vì luôn phải đào sâu suy nghĩ, nên họ sẽ gặp những câu hỏi lớn về nỗi niềm và sinh mệnh con người, đó chính là bản chất của người nghệ sỹ. Với anh, con người vốn là những thân phận nhỏ bé có đời sống mong manh trong quỹ thời gian hữu hạn: “Ta quá bé nhỏ để níu giữ những gì ta mơ”, “Anh đâu phải tiên phật mà nhìn ra khoảng trống thấy được vạn vật… anh là một người trần đỏ mắt khô biết nấu nung điều gì nghĩ thêm chi”. Nên ta cần khiêm tốn, bớt ảo tưởng mình vĩ đại, bởi sinh mệnh này chịu sự chi phối của bao yếu tố. Trước nhiều vấn đề của đời sống, ta bất lực không thể giải quyết và mãi mãi phải đi tìm câu trả lời giữa mênh mông vô hạn: “Ta là từng người buồn, thì mãi mãi biết là bao lâu”. Và nghệ sĩ chính là người nhạy cảm để tiên phong, giải mã những điều phức tạp ấy thành cụ thể, dễ hiểu hơn – “Nào có đâu thánh thần, nào có đâu tiên phật nơi vết dấu người đi”.
Đỗ Bảo có quan điểm sống của riêng mình, và trong thẳm sâu nhận thức, anh đã suy nghĩ xong, nên cứ kiên định đi trên con đường ấy. Như ca sĩ Trần Thu Hà từng nói: “Bảo thấy cuộc sống trần trụi, hiểu những bi kịch của thời đại. Cũng như tôi, Bảo là một người buồn, nhưng thay vì chế nhạo, giễu cợt hoặc đấu tranh với những cái xấu cho một sự thức tỉnh, Bảo chọn cách nhắn nhủ, nhắc nhớ về những giá trị tốt đẹp của con người như tình yêu và lương tâm. Thái độ sống và viết của Bảo trung thành với quan điểm đó”. Đúng như anh nói, anh sống với những suy tư như vậy khá nhiều, đặc biệt là những năm còn trẻ với bao băn khoăn về đời sống: “Người buồn đi vòng quanh, đời dài rộng cũ kỹ, nghĩ sao cho vơi nỗi sợ và mê si”…
Đỗ Bảo cho rằng, ngôn ngữ có giới hạn, âm nhạc cũng vậy, không thể biểu đạt hết thế giới suy tư mênh mông bất tận như vũ trụ bên trong con người. Bởi con người rất nguyên bản, ai cũng có cái tôi khác nhau, quá nhiều mảnh ghép cái tôi, một chuỗi “cái tôi điệp trùng”. Và ta phải tổ chức tốt cái tôi xã hội trước khi trở về với cái tôi riêng tư, dù chính cái riêng tư đó mới giúp xác lập ta là ai trong cuộc đời này. Anh luôn đề cao sự cân bằng, hài hòa (dẫu có lúc bị xem là quá an toàn) để không rơi vào cái bẫy nghĩ mình là ai đấy với những rao giảng triết lý. Anh nghĩ, con người thường quên đi nhiều thứ nên dễ rơi vào nhầm lẫn, ảo tưởng; chỉ cần ta không quên vị trí, đặc tính của mình trong vũ trụ thì cuộc sống sẽ bớt mâu thuẫn và dễ chịu hơn nhiều.
Bên cạnh những bài nhạc tình yêu và thân phận thành công, Đỗ Bảo còn được tín nhiệm ở mảng âm nhạc viết cho cộng đồng, là những sáng tác cho các ngành nghề hay vùng miền. Lối viết nhạc rất riêng của anh khiến cho những nội dung tưởng chỉ mang tính tuyên truyền vẫn có chiều sâu lắng đọng. Anh cho đó cũng là một đóng góp ý nghĩa của người nhạc sĩ với cuộc đời, khi âm nhạc vẫn vang lên đẹp đẽ nhưng lại phục vụ thiết thực trong từng tình huống cụ thể của đời sống. Gần nhất anh có bài hát “Tôi là anh lính binh nhất” với giai điệu lạc quan, tươi vui viết về anh bộ đội trẻ tham gia phòng chống dịch Covid-19, được dư luận đón nhận tích cực. Chưa kể với vai trò người thầy, tổ trưởng bộ môn Sáng tác Chỉ huy tại khoa Âm nhạc ở trưởng Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, anh đang từng ngày truyền kiến thức và lửa đam mê cho học trò, giúp tạo nên một thế hệ nghệ sĩ trẻ có nhận thức đúng đắn, nghiêm túc về con đường nghệ thuật.
Trên con đường sáng tạo của người nghệ sĩ, có bao niềm vui nhưng cũng không ít khổ ải. Dẫu có nhiều điều bị khuất lấp, nhưng anh luôn làm chúng với thái độ cẩn trọng và tử tế. Và thành quả cho nỗ lực ấy chính là tiếng vọng cuộc đời mà anh được nhận lại từ khán giả, những người yêu và tìm đến âm nhạc anh để được đồng cảm và ủi an. Đó chính là động lực giúp anh tiếp tục sáng tác, bởi với người nghệ sĩ, còn gì hạnh phúc hơn khi được khán giả cần đến, để âm nhạc của mình bước thật sâu vào đời họ.
Với tôi, Đỗ Bảo là tinh hoa âm nhạc, một người làm nhạc chân chính, không ảo tưởng danh xưng, giàu cảm xúc nhưng luôn đề cao sự cân bằng. Đỗ Bảo vẫn kiệm lời về mình, mà phải, anh đâu cần nói thêm gì khi âm nhạc anh chính là tâm hồn anh. Ai được tắm trong dòng suối ấy coi như đã thấm được thứ cốt lõi ở người nhạc sĩ này. Như câu hát “giờ đã là lúc mà thời gian để yêu, giờ là lúc sống giấc mơ đời mình”, tôi nghĩ đây chính là thời điểm Đỗ Bảo sống trọn vẹn với giấc mơ của đời anh. Bởi “con tim không tuổi còn mơ những tia nắng non”. Bởi sáng tạo thì luôn mới mẻ, khi giây phút nào chẳng là “giây phút bắt đầu cho những ngày mai”.

https://antgct.cand.com.vn/Nhan-vat/nhac-si-do-bao-kho-ai-nhung-hanh-phuc-i643763/

Tạm biệt/đón chào tất cả những niềm vui/nỗi buồn của năm cũ/năm mới. Một năm khởi đầu cho cuộc sống rất khác của tôi. Nhưng tôi thấy bình yên sau sự dịch chuyển ấy. Là bởi vì tâm tôi đã tự định vị ở một nơi mà nó muốn, nên dẫu xê dịch chỗ nào, mọi sự vẫn bình thường thế thôi. Và tôi sẽ tiếp tục học những bài học cuộc đời, trau rèn mình để trong sáng, giản dị, điềm đạm hơn trước mọi diễn biến của đời sống. Vì rút cục tôi chẳng mang theo được gì, ngoài bước chân và hơi thở, nên tôi đâu cần phải cố hết sức để bon chen. Tôi chỉ cần chăm chỉ làm việc của chính mình, là đã đủ ăn và hạnh phúc.

Cách đây vài hôm, tôi có mơ một giấc mơ đi chợ. Cụ thể tôi mơ tôi ở cửa hàng hải sản và bà bán hàng cho tôi xem những con mực vĩ đại. Tôi không nhớ chi tiết giấc mơ, chỉ nhớ bà bán hàng xẻ con mực ra thành bốn miếng thì phải. Đã bị xẻ ra rồi nhưng mực vẫn rất to, màu trắng, hình tròn khum lại như đáy bát ô tô úp. Giấc mơ không có gì đáng nhớ cho đến hai ngày sau đó, khi tôi đặt chân đến vùng đất mới, ngôi nhà mới và mở tủ lạnh ra nấu bữa cơm đầu tiên. Giữa khắp lượt đồ ăn đông lạnh, mắt tôi chạm phải một túi bọc bên trong là màu trắng. Tôi lôi túi ra thì ôi chao đó là một phần của con mực khổng lồ. Nó giống ơi là giống so với phần mực trong giấc mơ tôi. Tôi lại được một phen giật mình như một số lần từng giật mình vì gặp thứ mình vừa mơ trước đó. Nên tôi ghi lại để nhớ giấc mơ này.



Lâu nay không viết được gì ở blog này. Phần vì bận chuẩn bị cho một chuyến đi dài, phần vì cũng mải chăm lo cho fanpage. Và sáng nay bấm vào xem lượt follow thì thấy đúng 55.000. Mình hiểu con số không phải là tất cả nhưng cũng nói lên rất nhiều điều. Trước nhất nó cho thấy mình đã bền bỉ như thế nào để đến được chặng đường này, dù chỉ là một điều nhỏ bé so với ngoài kia. Nó cũng củng cố cho mình một bài học không bao giờ cũ, đó là kiên trì chuyên tâm với con đường mình chọn, thì trái ngọt sẽ đến trong tay. Dù chỉ là một trái nhỏ xíu khuất lấp khiêm nhường.

Cảm ơn một năm đã cho tôi bao trải nghiệm và nhận ra, cảm ơn một năm bình yên sắp đi qua!
Đêm qua tôi ngủ muộn. Và đã mơ một giấc mơ về những cái chết. Đầu tiên tôi mơ một người phụ nữ, không rõ là nhà sư hay người bình thường, ngồi sẵn sàng ung dung để chuẩn bị tự thiêu. Rồi tôi mơ tiếp có mấy người phụ nữ đứng ở gần hai cái hố tròn trên ốp sắt và ném áo quần của người tự thiêu xuống. Trong hố đó có vẻ chứa rất nhiều nỗi sợ, và dường như mọi người vừa ném đồ vừa rất lo âu có thứ gì đó phía dưới tỏa lên ma mị ám khói.
Đặc biệt, tôi mơ anh Việt, hàng xóm nhà chồng tôi cũng là bạn thân của chồng vì vợ đã mất nên buồn chán tự thiêu. Cảm giác trong mơ rất sợ, khi một người trẻ khỏe như anh lại tự kết liễu đời mình theo cách như vậy. Tôi muốn kể chi tiết hơn nhưng sáng dậy giấc mơ đã mai một đi mất rồi. Chỉ còn cảm giác chơi vơi khi chứng kiến một cái chết bất ngờ của người tôi quen biết.
